Author: Trang Nguyen

  • Tập huấn MODRA 2: Đưa ý tưởng nghiên cứu vào thá»±c tế

    Tập huấn MODRA 2: Đưa ý tưởng nghiên cứu vào thực tế

    Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam - Chương trình tập huấn MODRA lần thứ hai đã trang bị cho các nhà khoa học trẻ những kỹ năng thiết yếu để thành công trong việc xin tài trợ và quản lý dự án nghiên cứu. 15 nhà nghiên cứu sau tiến sĩ từ Khóa đầu tiên của MODRA đã được đào tạo chuyên sâu để trình bày ý tưởng nghiên cứu một cách hiệu quả, từ đó tự tin cạnh tranh cơ hội nhận tài trợ lên đến 30.000 USD thông qua Chương trình Hạt giống MODRA.

    Các học viên đã được rèn luyện kỹ năng thuyết trình, bao gồm cách xây dựng cấu trúc bài nói mạch lạc và kể chuyện hấp dẫn. Nhờ những buổi thực hành và nhận được phản hồi từ các chuyên gia, các nhà khoa học trẻ đã tự tin trình bày ý tưởng của mình trước Hội đồng khoa học của Học viện MODRA (AEC).

    Chị Ka’ Na Thy Dakrong , Nhân viên Quản lý Quỹ nghiên cứu cá»§a OUCRU, giá»›i thiệu về giai Ä‘oạn chuẩn bị và ná»™p đề cương nghiên cứu

    Chương trình tập huấn đợt 2 chú trọng vào việc giúp các nhà khoa học trẻ chuyển tiếp thành công từ giai đoạn xin tài trợ sang giai đoạn triển khai dự án nghiên cứu. Chương trình đã trang bị cho các học viên những kỹ năng thiết yếu trong quản lý dự án, như lập kế hoạch, giao tiếp với các bên liên quan và quản lý rủi ro, những kỹ năng thường không được chú trọng trong các chương trình đào tạo khoa học chính quy.

    Chương trình tập huấn cũng đề cập đến các khía cạnh quan trọng của quản lý sau khi nhận tài trợ, chẳng hạn như mua sắm, tài chính và đi lại. Khóa đào tạo toàn diện này cung cấp cho học viên các công cụ cần thiết để thực hiện các dự án nghiên cứu có tác động lớn.

    Bà Gaye Proctor đào tạo các nhà khoa học MODRA về quản lý dự án

    TS Leigh Jones, Giám đốc MODRA, cho biết: “Chương trình Tập Huấn đợt 2 là bước đệm giúp các nhà khoa học trẻ chuyển từ lý thuyết sang thực hành, biến ý tưởng sáng tạo thành những dự án nghiên cứu cụ thể. Các học viên đã được trang bị đầy đủ kiến thức và kỹ năng để tự tin thuyết trình trước hội đồng chuyên môn và lập kế hoạch thực hiện dự án một cách bài bản.

    Điều đặc biệt ở MODRA là chúng tôi đạo tạo các nhà khoa học trẻ mọi khía cạnh của việc quản lý nguồn tài trợ, bao gồm quản lý dự án và tài chính. Các thành viên Khóa I đã nhận được sự trợ giúp nhiệt tình từ các nhóm hỗ trợ nghiên cứu của MORU và OUCRU,. Nhờ những hướng dẫn chi tiết, các bạn đã nắm vững các kỹ năng cần thiết để quản lý dự án một cách hiệu quả. Các nhà khoa học hiếm khi được đào tạo toàn diện như vậy, và mục tiêu của chúng tôi là trao quyền cho những người tham gia để tự tin dẫn dắt các dự án của mình.

    Chúng tôi cÅ©ng rất vui mừng khi thấy cá»™ng đồng MODRA ngày càng lá»›n mạnh, nÆ¡i các thành viên cùng nhau chia sẻ và phát triển.” 

    Tiến sĩ Leigh Jones phát biểu tại Hội thảo MODRA 2

    Tiến sÄ© Nguyá»…n Quang Vinh , Trưởng nhóm MODRA – Việt Nam chia sẻ: “Vá»›i góc độ cá»§a má»™t người nghiên cứu sau tiến sÄ© tôi nhận thấy rằng, việc phát triển nghiên cứu độc lập là má»™t quá trình tích lÅ©y về cả kiến thức chuyên môn và những kÄ© năng về lên kế hoạch cho dá»± án, các thuyết trình, quản lý ngân sách, quản lý thời gian dá»± án.

    Chương trình tập huấn đợt 2 đã cung cấp những kỹ năng cần thiết này và giúp người tham gia tiếp cận một các thực tế, hiểu rõ hơn được tầm quan trọng của những kỹ năng này bằng cách phân tích và quản lý trực tiếp trên những đề cương của họ.

    Các thành viên MODRA Khóa I tại Hội thảo 2

    Hội thảo này cũng đánh dấu sự kết thúc các hoạt động của Khóa I MODRA trong năm nay. Các nhà nghiên cứu với những ý tưởng dự án triển vọng đã nhận tài trợ để thực hiện các dự án của mình. Kết quả nghiên cứu sẽ được trình bày tại cuộc họp MODRA vào năm sau tại Indonesia, nơi các nhóm nghiên cứu sẽ quay trở lại để chia sẻ tiến độ công việc.

    Hãy theo dõi hành trình đào tạo thế hệ lãnh đạo nghiên cứu trẻ của MODRA!

    ***

    GIỚI THIỆU VỀ MODRA: Sáng kiến Học viện nghiên cứu khám phá MORU–OUCRU (MODRA) nhằm trao quyền cho các nhà nghiên cứu khoa học ở giai đoạn đầu và giữa sự nghiệp, thông qua các tập huấn toàn diện về quản lý nghiên cứu, viết đề xuất tài trợ, và phát triển chuyên môn. Bằng cách thúc đẩy sự hợp tác và đổi mới, MODRA hướng đến mục tiêu xây dựng một cộng đồng các nhà khoa học tiên phong, sẵn sàng đối mặt với những thách thức toàn cầu và tạo ra những nghiên cứu khoa học có ý nghĩa.

    Khóa I MODRA được công bố vào tháng 7 năm 2024 sau một quá trình tuyển chọn đầy cạnh tranh. 15 nhà nghiên cứu sau tiên sĩ của khóa I đang trải qua quá trình rèn luyện kéo dào 18 tháng, nhằm phát triển sự nghiệp nghiên cứu khoa học cũng như khả năng cạnh tranh xin các nguồn vốn tài trợ quốc tế.

    Khóa tiếp theo của MODRA sẽ bắt đầu đợt tuyển từ tháng 3 năm 2025.

    Để biết thêm thông tin, hãy truy cập modracademy.org

  • MODRA Workshop 2: Putting research ideas into action  

    MODRA Workshop 2: Putting research ideas into action  

    HO CHI MINH CITY, Vietnam – MODRA Workshop 2 provided early- to mid-career researchers with essential skills to navigate the complexities of securing and managing research funding. 15 postdoctoral scientists from MODRA’s inaugural cohort were intensively trained to pitch their research ideas for up to $30,000 in funding through the MODRA Seeds programme. 

    Participants enhanced their presentation skills through training in storytelling, structure and improved delivery. Structured practice sessions and feedback from experienced scientists helped these emerging researchers refine their pitches before presenting them to the MODRA Academy Executive Committee (AEC) for the chance to secure funding. 

    Ms Ka’ Na Thy Dakrong, OUCRU Grant Administrator, introduces the pre-award process

    A key focus of the workshop was helping new researchers transition from securing funding to effectively managing research projects. The training provided highly practical knowledge in project management, including project planning, stakeholder communication, and risk management —skills that are often not covered in traditional science degrees. 

    The workshop also addressed important aspects of post-award management, such as procurement, finance, and travel. This comprehensive training gave participants the tools they need to move seamlessly from securing grants to executing high-impact research projects. 

    Coach Gaye Proctor trains MODRA scientists on project management

    Dr Leigh Jones, Director of MODRA: “Workshop 2 has been all about putting plans into action. The cohort was supported to pitch their seed proposal ideas to an expert panel, and plan for the hard part – delivering their seed award projects.

    Part of what makes MODRA so unique is our training in all aspects of grant awarding including project and financial management. The cohort greatly appreciated the expertise of the wonderful research support teams of MORU and OUCRU, as they walked them through all aspects of grant management. Scientists are rarely trained in such a comprehensive manner, and we aim to empower our participants to lead their projects in a confident and assured way.

    We are also excited to see the cohort develop as friends and collaborators – the MODRA network is already beginning to grow!” 

    Dr Leigh Jones speaks at the MODRA Workshop 2

    Dr Nguyen Quanh Vinh, MODRA Leader – Vietnam, shared: “As a postdoctoral researcher, I’ve firsthand experienced the challenges of transitioning to independent research. It requires a gradual accumulation of specialized knowledge and a range of essential skills, including project planning, presentation, budgeting, and time management. 

    MODRA Workshop 2 was designed to address these needs, equipping participants with essential skills and empowering them to analyse and manage their research proposals.” 

    MODRA Cohort I at the Workshop 2

    The workshop marked the conclusion of activities for MODRA’s inaugural cohort this year. Researchers with promising project ideas were awarded funding to take their projects forward. These research results will be presented at next year’s MODRA meeting in Indonesia, where the cohort will return to share their progress. 

    Stay tuned to see how MODRA is shaping the next generation of impactful research leaders.

    ***

    ABOUT MODRA: The MORU–OUCRU Discovery Research Academy (MODRA) initiative is dedicated to empowering early-career researchers through comprehensive training in research management, grant writing, and professional development. By fostering collaboration and innovation, MODRA aims to cultivate a community of scientists ready to tackle global challenges and drive impactful research. 

    The inaugural cohort of MODRA was selected in July 2024 through a highly competitive process. The 15 top postdoctoral researchers are undergoing 18 months of intensive training to fast-track their scientific careers and enhance their ability to compete for international funding.

    Recruitment for the next cohort will open in March 2025. 

    For more information, visit modracademy.org 

  • OUCRU hosts BactiVac Network Meeting to drive global vaccine development 

    OUCRU hosts BactiVac Network Meeting to drive global vaccine development 

    HO CHI MINH CITY, Vietnam (Nov 7, 2024) – The BactiVac 5th Annual Network Meeting attracted 184 participants, including researchers, healthcare professionals, vaccine manufacturers, and policymakers from around the world.

    The Bacterial Vaccines Network (BactiVac) serves as a platform to accelerate global efforts in the development and use of vaccines against bacterial infections. Bacterial infections are causing approximately five million deaths each year, and the rising threat of antimicrobial resistance (AMR) further complicates efforts to control these infections. To address this global challenge, the network convenes each year to foster cross-sector collaboration and exchange the latest vaccine technologies.

    A key outcome of the 2024 BactiVac Network Meeting was the formation of new partnerships and strategies to advance vaccine development. During the three-day programme, scientists from both high-income and low- and middle-income countries shared their latest vaccine research findings and discussed innovative technologies, including mRNA platforms.

    Special attention was given to urgent regional health issues, such as the need for vaccines against Klebsiella pneumoniae in Vietnam and the strengthening of vaccine manufacturing and regulation in Bangladesh.

    Highlights of the meeting

    The meeting also explored the complex challenges of developing bacterial vaccines, including navigating clinical trial hurdles and addressing the social factors contributing to vaccine hesitancy. One of the highlights was a translational workshop that explored strategies to advance vaccines from the laboratory to clinical use. This session offered practical insights into overcoming the “Valley of Death” in vaccine development, providing actionable strategies for navigating early-stage trials and scaling up manufacturing efforts.

    Professor Guy Thwaites, Director of OUCRU, speaking at the BactiVac Network Meeting 2024

    Professor Guy Thwaites highlighted the importance of BactiVac Network Meeting: “By bringing together experts from diverse backgrounds, we are building a shared vision for addressing some of the world’s most urgent infectious disease challenges. This meeting is a critical step in advancing vaccines against bacterial infections and improving public health globally.”

    Participators at the BactiVac Annual Network Meeting 2024

    OUCRU is a leading research institute focused on infectious diseases, driving local research with global impact. By hosting the first BactiVac Network meeting in Asia, OUCRU has demonstrated its commitment to fostering international collaboration and advancing health solutions worldwide.

    ***


    ABOUT BACTIVAC

    Founded in August 2017, the Bacterial Vaccines Network (BactiVac) is one of five vaccinology networks supported by the Global Challenges Research Fund (GCRF). BactiVac brings together members based in academic, industry and policy sectors to accelerate the development of vaccines against bacterial infections relevant to LMICs.

    The BactiVac Network delivers this through catalyst projects and training awards to encourage cross-collaboration between academic and industrial partners in developed and developing nations.

  • Nghiên cứu về chăm sóc cuối đời tại Việt Nam

    Nghiên cứu về chăm sóc cuối đời tại Việt Nam

    Điều gì đã thôi thúc chị nghiên cứu về chăm sóc cuối đời, một đề tài còn mới tại Việt Nam?

    Tôi bắt đầu quan tâm đến chăm sóc cuối đời khi làm việc cho dự án VITAL tại OUCRU. Đây là dự án đổi mới, nâng cao kỹ thuật cho các phòng điều trị tích cực tại bệnh viện Việt Nam.

    Mỗi năm có hàng trăm ngàn người qua đời vì bệnh nặng, và nhu cầu chăm sóc cuối đời ngày càng tăng cao. Tuy nhiên, hệ thống chăm sóc hiện tại vẫn còn nhiều hạn chế. Làm việc tại phòng điều trị tích cực suốt thời gian đại dịch COVID-19, chứng kiến bệnh nhân và gia đình họ đấu tranh với bệnh tật và nỗi đau, tôi cảm thấy vô cùng xót xa.

    Điều đó đã thôi thúc tôi nghiên cứu để cải thiện chất lượng chăm sóc cuối đời ở Việt Nam. Tôi muốn góp phần mang đến sự chăm sóc tốt nhất cho bệnh nhân, hỗ trợ gia đình họ vượt qua giai đoạn khó khăn, đồng thời giảm bớt gánh nặng cho các nhân viên y tế.

    Theo chị, các yếu tố văn hóa ảnh hưởng thế nào đến việc chăm sóc bệnh nhân cuối đời?

    Phong tục tập quán của người Việt rất coi trọng việc phụng dưỡng người già, chăm sóc người bệnh. Thay vì đối mặt với sự cô đơn, lạnh lẽo của bệnh viện, nhiều người bệnh mong muốn được sống những ngày cuối đời tại nhà, được ra đi trong vòng tay yêu thương của gia đình.

    Trong giai đoạn cuối đời, nhiều bệnh nhân cũng lựa chọn từ chối các biện pháp điều trị xâm lấn, ưu tiên dành thời gian bên gia đình và người thân.

    Các y bác sĩ, vừa là người thầy thuốc, vừa là người bạn đồng hành, lắng nghe và thấu hiểu tâm tư, nguyện vọng của bệnh nhân và gia đình. Tuy vậy, với thực trạng quá tải trong y tế, hầu hết nhân viên y tế không đủ thời gian để lắng nghe tâm tư, nguyện vọng và nâng đỡ tinh thần cho người bệnh.


    Đâu là những khó khăn thường gặp ở người bệnh đang trải qua những tháng ngày cuối đời và gia đình họ?

    Nói đến bệnh tật là không chỉ nói về nỗi đau thể xác. Bệnh tật còn là gánh nặng tài chính và thử thách tinh thần cho mọi thành viên trong gia đình có người bệnh. Khi người thân thân nằm trong phòng điều trị tích cực, gia đình đối diện với nỗi lo sinh tử của người bệnh và cả gánh nặng chi phí điều trị, ngay cả khi đã có bảo hiểm y tế.

    Nếu bệnh nhân rơi vào tình trạng nặng, gia đình phải đưa ra quyết định đau lòng: tiếp tục điều trị với chi phí cao, khi tiên lượng sống gần như không còn; hoặc xin về chăm sóc tại nhà để người bệnh được an ủi cuối đời.

    Khi đưa người thân về nhà chăm sóc, gánh nặng chi phí vẫn Ä‘eo Ä‘uổi cả gia đình vì họ phải gánh gồng mọi chi trả cho thuốc men, dụng cụ y tế, dinh dưỡng chuyên biệt… Vá»›i nhiều gia đình, đây là má»™t áp lá»±c thật sá»±.

    Chị có thể chia sẻ thêm những khó khăn của nhân viên y tế trong phòng điều trị tích cực?

    Phòng điều trị tích cực là nơi điện sáng và máy móc hoạt động 24/24 giờ, không có giây phút ngơi nghỉ. Nhân viên làm việc trong môi trường áp lực cao. Tại đây, các y bác sĩ phải đối mặt với những thách thức y khoa, và trong nhiều trường hợp, phải vượt qua cảm xúc bất lực và vật lộn với những vấn đề đạo đức phức tạp liên quan đến chăm sóc cuối đời.

    Tại phòng điều trị tích cực, bác sĩ thường phải đưa ra những tư vấn khó khăn với người nhà về việc duy trì hay rút bỏ các biện pháp hỗ trợ sự sống. Điều này đòi hỏi không chỉ kiến thức y khoa sâu rộng mà còn cả sự thấu hiểu về mặt tâm lý và xã hội của bệnh nhân và gia đình. Ở nhiều quốc gia, luôn có ban cố vấn để hỗ trợ bác sĩ và người nhà bệnh nhân trong các quyết định khó khăn này. Tại Việt Nam, mô hình này vẫn chưa được phổ biến rộng rãi.

    Việc chứng kiến bệnh nhân ra đi và phải đối mặt với nỗi đau khổ của gia đình người bệnh là một trải nghiệm vô cùng nặng nề. Nhiều nhân viên ICU đã bị kiệt sức và căng thẳng kéo dài, đặc biệt là trong thời gian đại dịch COVID-19. Thiếu hụt các chương trình hỗ trợ sức khỏe tâm lý và các chính sách bảo vệ sức khỏe đã làm trầm trọng thêm tình trạng kiệt sức nghề nghiệp, kéo theo nhiều hệ lụy tiêu cực khác trên nhân viên y tế.

    Đâu là giải pháp cho những thách thức trên?

    Trước hết, chúng ta có thể vận động triển khai các chính sách ưu đãi và hỗ trợ chăm sóc giảm nhẹ tại nhà. Việc này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để bệnh nhân được chăm sóc trong môi trường quen thuộc, giảm gánh nặng cho gia đình và hệ thống y tế.

    Bên cạnh đó, cần xây dựng và mở rộng các trung tâm cộng đồng hoặc dịch vụ chăm sóc cuối đời, chăm sóc giảm nhẹ chuyên nghiệp. Từ đó, người bệnh và thân nhân người bệnh có thêm nhiều lựa chọn chăm sóc đa dạng, đáp ứng nhu cầu cá nhân.

    Các cơ quan, đơn vị y tế cũng cần tăng cường đào tạo về chăm sóc cuối đời cho đội ngũ nhân viên y tế, đặc biệt là về các vấn đề đạo đức và giao tiếp. Điều này sẽ giúp họ nâng cao năng lực chuyên môn, tự tin hơn trong việc đưa ra các quyết định lâm sàng và chăm sóc cho bệnh nhân.

    Nghiên cứu xã hội giúp ích gì trong việc nâng cao chất lượng chăm sóc cuối đời?

    Nghiên cứu xã hội là chìa khóa để giải quyết những thách thức trong chăm sóc cuối đời tại Việt Nam. Bằng cách tiến hành các nghiên cứu, chúng ta có thể xác định nhu cầu cụ thể của bệnh nhân và gia đình. Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở để xây dựng và hoàn thiện các chính sách về chăm sóc cuối đời.

    Hơn nữa, tôi tin rằng nghiên cứu có thể nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của chăm sóc cuối đời, từ đó khuyến khích cách tiếp cận nhân văn, hiệu quả hơn.

    Những khó khăn chị gặp phải khi nghiên cứu về chăm sóc cuối đời, một đề tài khá nhạy cảm?

    Tính chất nhạy cảm của chủ đề chăm sóc cuối đời là một trong những thách thức lớn nhất của tôi khi thực hiện nghiên cứu này. Việc mở lòng chia sẻ về mất mát và đau buồn là điều không dễ dàng đối với nhiều người, đặc biệt là trong văn hóa Việt Nam. Do đó, việc thu thập dữ liệu và thông tin từ các gia đình đang trải qua giai đoạn mất mát đòi hỏi sự tế nhị và tôn trọng rất cao.

    Khó khăn kế đến là nguồn dữ liệu về chủ đề này còn ít. Là một lĩnh vực còn khá mới, nên số lượng nghiên cứu và dữ liệu hiện có còn rất ít. Điều này khiến việc tìm kiếm thông tin tham khảo và xây dựng khung lý thuyết cho nghiên cứu gặp nhiều khó khăn.

    Tuy nhiên, tôi tin rằng những thách thức này có thể được vượt qua. Nhờ sự hướng dẫn tận tình của thầy cô giám sát và sự hỗ trợ từ Nhóm Kết Nối Khoa Học với Công Chúng và Cộng Đồng tại OUCRU, tôi đang từng bước tiếp cận cộng đồng và thu thập dữ liệu.

    Đặc biệt, tiềm năng áp dụng các thiết bị giám sát sinh hiệu giá phải chăng do OUCRU phát triển qua dự án VITAL hứa hẹn sẽ mở ra những cơ hội mới để nâng cao chất lượng chăm sóc cuối đời và thu thập dữ liệu một cách hiệu quả hơn.

    Theo chị, nhận thức xã hội về cái chết tại Việt Nam có gì thay đổi những năm gần đây?

    Tôi nhận thấy một số thay đổi đáng kể trong cách chúng ta đối diện với cái chết. Ở các thành phố lớn, việc tổ chức lễ tang tại nhà tang lễ đang dần trở nên phổ biến hơn. Tại các khu chung cư, người dân cũng quen với việc lựa chọn nhà cộng đồng của khu dân cư thay vì tổ chức tại nhà.

    Đồng thời, giới trẻ cũng có cái nhìn tích cực hơn về cái chết, thể hiện qua việc tăng số lượng người hiến tạng, hiến xác. Những xu hướng này cho thấy một sự chuyển dịch trong nhận thức xã hội về cái chết, từ quan niệm truyền thống sang một quan điểm cởi mở và nhân văn hơn.

    Kế hoạch của chị trong tương lai?

    Tôi rất mong muốn được đóng góp vào việc cải thiện chất lượng chăm sóc cuối đời tại Việt Nam. Việc theo học chương trình Tiến sĩ tại Đại học Oxford sẽ giúp tôi tiếp cận những kiến thức và kinh nghiệm tiên tiến nhất về chăm sóc giảm nhẹ.

    Tôi hy vọng sẽ xây dựng một mô hình thí điểm chăm sóc cuối đời dựa vào cộng đồng tại Việt Nam, nơi mà bệnh nhân và gia đình có thể nhận được sự hỗ trợ toàn diện và nhân văn.

    Chăm sóc cuối đời tại bệnh viện là một vấn đề phức tạp đòi hỏi sự hợp tác của nhiều bên, bao gồm các nhân viên y tế, bệnh nhân, gia đình, và các nhà hoạch định chính sách. Thông qua nghiên cứu của mình, tôi mong muốn đưa ra những đề xuất thiết thực nhằm giảm thiểu áp lực tâm lý cho nhân viên y tế, và xây dựng một hệ thống chăm sóc cuối đời nhân văn, toàn diện hơn.


    Chị Lưu Phước An đã xuất sắc nhận được học bổng OUCRU Prize Studentship 2023 để theo đuổi chương trình nghiên cứu Tiến sĩ tại Khoa Y Nuffield, Đại học Oxford, Vương Quốc Anh.

    Tìm hiểu về chương trình đào tạo tiến sĩ tại OUCRU: www.oucru.org/vi/chuong-trinh-tien-si/

  • Researcher Explores End-of-Life Care in Vietnam

    Researcher Explores End-of-Life Care in Vietnam

    Your research on end-of-life care in Vietnam is relatively new. What inspired you to focus on this area? 

    My interest in end-of-life care stems from my experience working on the VITAL Project at OUCRU. This project focuses on technical innovation for intensive care units (ICUs) in Vietnamese hospitals.  

    The COVID-19 pandemic exposed critical gaps in Vietnam’s healthcare system, particularly in end-of-life care. Working in the ICU during this time, I witnessed firsthand the immense challenges faced by patients, families and healthcare providers as patients approached the end of their lives.  

    The emotional toll and lack of adequate resources deeply affected me, inspiring me to pursue research in this area.  

    How do cultural beliefs influence end-of-life decisions in Vietnam? 

    Vietnamese culture has distinct beliefs and practices around death and dying. One significant tradition is keeping loved ones at home as they are nearing the end. This is perceived as a “good death”, in contrast to passing away alone in the hospital. Even if it means travelling far or spending a lot, families will try to bring their loved ones home for their final moments. 

    Another thing is that many Vietnamese prefer a peaceful death without invasive interventions.  

    These beliefs can create challenges for healthcare providers who must balance the patient’s medical needs with their family’s cultural preferences. 

    What are some of the most significant challenges faced by patients and families?  

    Patients and families often struggle with financial burdens, emotional distress, and decision-making related to end-of-life care. Even with health insurance, the costs of hospitalisation, medications, and specialised care at the ICUs can be expensive. 

    Families of very ill patients may face a difficult choice: extending costly treatments with uncertain outcomes or choosing palliative care, which focuses on comfort and quality of life. 

    If families choose to care for their loved ones at home, they also face financial barriers. Currently, there is no government support or insurance for home-based palliative care. Once a patient is discharged from the hospital, the family is responsible for all medical costs. This can make it difficult to decide whether to continue treatment or opt for palliative care. 

    What challenges do healthcare providers face in ICUs in Vietnam? 

    Healthcare providers in ICUs face a lot of challenges. They may not have enough resources or training to handle end-of-life care, and sometimes, cultural or religious differences can make things even more difficult.  

    Doctors might know a lot about medicine, but they lack the specialised knowledge in ethics required to guide patients through complex end-of-life decisions. In other countries, an ethical counsellor often works with doctors and patients to make these decisions together. 

    Caring for patients nearing the end of their lives can be emotionally taxing for frontline workers. The constant exposure to death and suffering, and limited support systems, have led to a surge in burnout and emotional distress among medical staff, especially during COVID-19. 

    What are some of the potential solutions to address these challenges? 

    One thing we can do is advocate for policies that support home-based palliative care. This would make it easier for families to care for their loved ones in a comfortable and familiar setting, while also reducing financial burdens.

    Another approach is to provide alternative services, such as hospice or community-based centres that offer professional palliative care.  These centres can help patients manage symptoms, improve quality of life, and make informed decisions about their care.  

    Within the healthcare system, we can provide frontline workers with training in end-of-life care, including ethics and communication skills, to help them better navigate complex situations and provide compassionate care.  

    What role can research play in improving end-of-life care in Vietnam? 

    Research is vital for improving end-of-life care. As a relatively new field, there is a significant lack of research in this area. We need to learn more about the specific needs of patients and families to develop better programmes and policies to enhance their experience.  

    Furthermore, I believe that research can raise awareness of the importance of end-of-life care and encourage more compassionate and supportive approaches. 

    What are some of the challenges you’ve faced in conducting your research? 

    The taboo nature of death and dying in Vietnam makes data collection quite challenging. It can be difficult to discuss these topics openly with grieving families, especially those who have recently lost a loved one. Moreover, end-of-life care is quite new, so there is limited existing research or data to draw from. 

    However, I am quite ready to rise above these challenges. I have received guidance from my supervisor, who is an experienced medical anthropologist, to have a better approach to this matter. The Public and Community Engagement department at OUCRU has also expressed interest in this field, promising to foster stronger cross-departmental collaboration and potentially expand the scope of our research.

    In the future, I envision that the application of affordable vital sign monitoring devices, developed by the VITAL Project, in home and community-based settings can enhance end-of-life care and collect better data. 

    Have you observed any recent trends in societal perceptions of death in Vietnam? 

    Yes, there have been some notable changes. In urban areas, with more people living in apartments or renting houses, there is a growing trend of holding ceremonies in funeral parlours rather than at home. This is a departure from the traditional practice. 

    There is also a changing perception of death among young people. Death is no longer seen solely as a negative event. More people are becoming organ donors, which reflects a more positive outlook on death and a desire to contribute to society even after passing away. 

    What is your future in this area of research? 

    I am very passionate about improving end-of-life care in Vietnam. In October, I will start my PhD training at the University of Oxford under the OUCRU Prize Studentship. There, I seek to learn best practices for alternative care in Western settings, participate in professional networks and learn from leading experts in the field. 

    As part of my research, I aim to establish a pilot community-based centre for end-of-life care in Vietnam. This will help me gather more data about the costs and challenges of end-of-life care, providing valuable insights for evidence-based advocacy to improve the healthcare system.

    By understanding challenges and opportunities, we can provide more informed care to patients and equip medical staff with the necessary skills to counsel patients and families effectively.


    Luu Phuoc An is one of the outstanding researchers to receive the OUCRU Prize Studentship 2023 to pursue a doctoral programme at the Nuffield Department of Medicine, University of Oxford, United Kingdom.

    Learn more about OUCRU PhD training programme: www.oucru.org/phd-programme

  • Lokakarya MODRA Memberdayakan Peneliti Awal Karier untuk Meraih Hibah Penelitian Kompetitif

    Lokakarya MODRA Memberdayakan Peneliti Awal Karier untuk Meraih Hibah Penelitian Kompetitif

    Bangkok, Thailand – Didanai oleh Wellcome Trust, MODRA merupakan hasil kolaborasi antara Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU) dan Mahidol Oxford Tropical Medicine Research Unit (MORU). Program ini bertujuan untuk mengubah lanskap penelitian kesehatan di Asia Selatan dan Tenggara dengan cara meningkatkan keterampilan peneliti dan memupuk komunitas ilmuwan yang dinamis.

    MODRA memilih kelompok peserta pertamanya, terdiri dari 15 peneliti pascadoktoral berbakat, pada Juli 2024 lalu. Seleksi tersebut merupakan awal dari program berdurasi 18 bulan yang dirancang untuk membekali para ilmuwan awal karier dengan keterampilan penting untuk menjadi ilmuwan kesehatan yang sukses.

    Lokakarya MODRA pertama, diadakan di Bangkok pada September 2024, menawarkan kurikulum pelatihan yang meliputi topik-topik seputar mencari ide riset, menulis proposal, merancang anggaran, dan berjejaring. Pelatihan ini menghadirkan jajaran fasilitator terkemuka, yaitu:

    • Dave Gandy (Grants Contracts Manager, MORU): Penulisan Hibah (Penulisan Proposal; Perencanaan Keuangan Persiapan Anggaran).
    • Dr Maneerat Ekkapongpisit (Director, MORU): Design Thinking.
    • Grid Ganjina: (Project Manager, MORU): Design Thinking.
    • Nantamon Netikul (Training and Development Manager, MORU): Analisis SWOT.
    • Sasipim Arttayakul (Training Development Officer, MORU): Analisis SWOT.

    Kami juga turut mengundang panel terhormat yang terdiri dari para peneliti MORU untuk berbagi pengalaman dan saran mereka tentang meniti karier dari peneliti pascadoktoral hingga menjadi pemimpin riset independen.


     

    Salah satu sesi dalam lokakarya ini adalah pengenalan ‘Design Thinking’. Metode pemecahan masalah ini mendorong para peneliti untuk menjawab tantangan kesehatan yang kompleks dengan solusi kreatif.

    Tujuan utama lain MODRA adalah memberdayakan peserta agar lebih mampu berkompetisi untuk memenangkan dan hibah internasional. Para peserta dibekali dengan keterampilan penting, mis. penulisan proposal dan penyiapan anggaran, yang memungkinkan mereka untuk menuangkan ide penelitian ke dalam proposal ilmiah yang konkret.

    Proyek-proyek yang menjanjikan berkesempatan untuk mendapatkan MODRA Seed Award dengan nilai hingga USD30.000. Dana ini mendukung pelaksanaan ide-ide penelitian, memberikan peluang unik bagi ilmuwan awal atau tengah karier untuk mendapatkan pengalaman langsung dalam memimpin seluruh siklus penelitian.

    Dr Leigh Jones, Academic Training Leader at OUCRU MORU and Director of MODRA, mencatat, “Banyak peneliti muda berkesulitan memulai penelitian mereka, seringkali karena kurangnya pengalaman dalam mengajukan hibah. MODRA akan mempersiapkan mereka untuk meraih dana hibah yang kompetitif, baik internasional maupun lokal.”

    Di luar ruang kelas, lokakarya MODRA berhasil membangun rasa kebersamaan di antara para peserta. Lingkungan yang kolaboratif membantu para peneliti awal karier untuk terhubung dengan rekan-rekannya yang berasal dari latar belakang yang beragam, berbagi ide, dan membuka jalan untuk berkolaborasi di masa depan.

    Keberhasilan lokakarya MODRA pertama ini merupakan awal dari banyak lokakarya MODRA selanjutnya, baik di Vietnam maupun Indonesia. Ikuti terus perkembangan para penelitinya dan saksikan bagaimana ide-ide penelitian berubah menjadi nyata.

    www.modracademy.org

  • Tập huấn MODRA tạo Ä‘iều kiện cho nhà khoa học trẻ tiếp cận tài trợ nghiên cứu

    Tập huấn MODRA tạo điều kiện cho nhà khoa học trẻ tiếp cận tài trợ nghiên cứu

    Bangkok, Thái Lan – Được tài trợ bởi Wellcome Trust , MODRA là sáng kiến hợp tác giữa Đơn vị nghiên cứu lâm sàng cá»§a Đại học Oxford (OUCRU) và Đơn vị nghiên cứu y học nhiệt đới Mahidol Oxford (MORU). Vá»›i sứ mệnh thúc đẩy nghiên cứu y tế ở khu vá»±c Nam và Đông Nam Á, MODRA tập trung vào nâng cao năng lá»±c nghiên cứu và xây dá»±ng má»™t cá»™ng đồng khoa học năng động.

    Chương trình tập huấn đầu tiên cá»§a MODRA được tổ chức tại Bangkok vào tháng 9 năm 2024. Khóa học đã diá»…n ra thành công vá»›i sá»± tham gia cá»§a 15 thành viên cá»§a MODRA Khóa I. Các nhà nghiên cứu đến từ nhiều quốc gia trong khu vá»±c sẽ cùng trải qua 18 tháng rèn luyện kỹ năng để giải quyết những thách thức trong lÄ©nh vá»±c y tế.

    Dưới sự hướng dẫn của đội ngũ giảng viên giàu kinh nghiệm, khóa học đã trang bị cho học viên những kỹ năng cốt lõi như triển khai ý tưởng, viết đề xuất, lập ngân sách và xây dựng kết nối, giúp họ tự tin hơn trong hành trình nghiên cứu.

    • Ông Dave Gandy (Quản lý Tài trợ, MORU): Viết Đề xuất (Viết Đề xuất; Kế hoạch Tài chính Chuẩn bị Ngân sách).
    • TS Maneerat Ekkapongpisit (Giám đốc, MORU): Tư duy Thiết kế.
    • Ông Grid Ganjina (Quản lý Dá»± án, MORU): Tư duy Thiết kế.
    • Bà Nantamon Netikul (Quản lý Đào tạo Phát triển, MORU): Phân tích SWOT.
    • Cô Sasipim Arttayakul (Cán bá»™ Đào tạo Phát triển, MORU): Phân tích SWOT.

    Chương trình cũng mời các nhà nghiên cứu kỳ cựu đến từ MORU tham gia buổi chia sẻ, định hướng cho các nghiên cứu sinh sau tiến sĩ trong quá trình chuyển đổi sang vai trò nhà nghiên cứu độc lập:

    • GS Mavuto Mukaka (Trưởng Bá»™ phận Thống kê, Nhóm há»— trợ thá»­ nghiệm lâm sàng, MORU)
    • GS Stuart Blacksell (Trưởng Bá»™ phận Sức khỏe và An toàn MORU, MORU)
    • GS Direk Limmathurotsakul (Trưởng Khoa Vi sinh, MORU)
    • GS Arjen Dondorp (Phó Giám đốc MORU và Trưởng khoa Sốt rét Bệnh hiểm nghèo, MORU)
    • TS Thomas Peto (Nhà Dịch Tá»… học về Bệnh Truyền Nhiá»…m, MORU)
    • TS Claire Chewapreecha (NCS Wellcome, MORU)


    Một điểm nhấn của khóa học là việc ứng dụng Phương pháp Tư duy Thiết kế, giúp các nhà khoa học trẻ phát triển những ý tưởng đột phá để giải quyết các vấn đề sức khỏe.

    Bên cạnh đó, chương trình còn trang bị cho họ những kỹ năng thiết yếu như xây dựng đề xuất nghiên cứu và lập kế hoạch tài chính, giúp họ tự tin hơn trong việc tìm kiếm các nguồn tài trợ và thực hiện các dự án nghiên cứu của mình.

    Các dự án triển vọng sẽ được cấp Giải thưởng Hạt giống MODRA, trị giá lên đến 30.000 đô la Mỹ. Nguồn tài trợ giúp triển khai ý tưởng nghiên cứu, tạo điều kiện cho các nhà khoa học trải nghiệm việc điều phối toàn bộ chu trình nghiên cứu.

    TS Leigh Jones, Trưởng nhóm đào tạo học thuật khu vá»±c tại OUCRU MORU kiêm Giám đốc MODRA, cho biết: “Việc thiếu kinh nghiệm xin tài trợ là rào cản lá»›n nhất đối vá»›i các nhà nghiên cứu trẻ. MODRA sẽ trang bị cho họ các kỹ năng cần thiết để xin được những khoản tài trợ cạnh tranh, cả trong nước và quốc tế.”

    Ngoài việc trang bị kiến thức chuyên môn, khóa tập huấn còn tạo ra một không gian để các nhà khoa học trẻ giao lưu, chia sẻ kinh nghiệm và xây dựng mối quan hệ hợp tác. Môi trường học tập cởi mở và thân thiện đã tạo điều kiện thuận lợi để các học viên cùng nhau học hỏi và phát triển.

    Sự thành công của khóa học đầu tiên đã mở ra những chương mới cho MODRA, với các hoạt động tiếp theo tại Việt Nam và Indonesia. Hãy cùng chúng tôi chờ đón những đóng góp tích cực của các nhà khoa học trẻ trong tương lai.

    www.modracademy.org

  • MODRA Workshop 1: Empowering early-career scientists to secure competitive research grants 

    MODRA Workshop 1: Empowering early-career scientists to secure competitive research grants 

    Bangkok, Thailand – Funded by the Wellcome Trust, MODRA is a collaborative initiative between the Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU) and the Mahidol Oxford Tropical Medicine Research Unit (MORU). The programme aims to transform the landscape of health research in South and Southeast Asia by enhancing research skills and fostering a vibrant community of researchers. 

    MODRA selected its maiden cohort of 15 talented postdoctoral researchers in July 2024. This marked the beginning of an 18 month-programme designed to equip these early-career scientists with the essential skills for success in health research. 

    The first MODRA workshop, held in Bangkok in September 2024, offered a well-rounded curriculum covering idea generation, proposal writing, budgeting and networking. It featured a distinguished lineup of trainers, including:  

    • Mr Dave Gandy (Grants & Contracts Manager, MORU): Grant Writing (Proposal Writing; Financial Planning & Budget Preparation). 
    • Dr Maneerat Ekkapongpisit (Director, MORU): Design Thinking. 
    • Mr Grid Ganjina (Project Manager, MORU): Design Thinking. 
    • Ms Nantamon Netikul (Training and Development Manager, MORU): SWOT Analysis. 
    • Ms Sasipim Arttayakul (Training & Development Officer, MORU): SWOT Analysis. 

    We also invited an esteemed panel of MORU researchers to share their experiences and advice on making the leap from postdoctoral scientists to independent research leaders. 


     

    One feature of this workshop was the introduction of Design Thinking. This problem-solving approach encourages researchers to develop creative solutions to complex health challenges.

    Another key objective for MODRA is to empower researchers to be more competitive in winning international funding. The workshop offered training in essential skills like proposal writing and budget preparation, enabling participants to transform their research ideas into concrete scientific proposals.  

    Promising projects are eligible for the MODRA Seed Award, worth up to $30,000. This funding supports the roll-out of these research ideas, bringing them to life and providing early-mid career scientists with a unique opportunity to gain hands-on experience by leading the entire research cycle. 

    Dr Leigh Jones, Academic Training Leader at OUCRU & MORU and Director of MODRA, noted, “Many young researchers struggle to get their research off the ground, often due to the lack of experience in grants application. MODRA will prepare them to successfully secure competitive grants, both internationally and locally.” 

    Beyond the classroom, the MODRA workshop fostered a sense of community among the participants. The collaborative environment allowed emerging researchers to connect with peers from diverse backgrounds, share ideas, and lay the groundwork for future collaborations. 

    The success of the first MODRA event paves the way for upcoming components of the programme, including more training workshops in Vietnam and Indonesia. Stay tuned for updates as we follow the researchers’ progress and witness their research ideas take shape. 

    www.modracademy.org

  • Nghiên cứu má»›i xác định các yếu tố nguy cÆ¡ gây bệnh lao tại TP.HCM

    Nghiên cứu mới xác định các yếu tố nguy cơ gây bệnh lao tại TP.HCM

    Bệnh lao – Mối Ä‘e dọa sức khỏe toàn cầu

    Trên thế giới, tiến trình làm giảm gánh nặng bệnh lao đã vấp phải thách thức trong suốt thời kỳ COVID-19 và ước tính có 10,6 triệu người mắc lao vào năm 2021, trong đó có 1,6 triệu người chết.

    Điều đặc biệt là tình trạng mắc bệnh lao không phân bố đồng nhất khi 90% gánh nặng bệnh này thuộc về 30 quốc gia thu thập trung bình và thấp. Do đó, người ta tin là sự phân bố về mặt địa lý của bệnh phản ánh sự tương tác phức tạp của người mắc bệnh và người dễ mắc, môi trường vật lý, tình trạng nghèo đói…

    Tại Việt Nam, theo thông tin từ Bộ Y tế, Việt Nam hiện đứng thứ 16/30 quốc gia về số bệnh nhân lao và đứng thứ 13/30 nước có gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc cao nhất trên toàn cầu. Việc hiểu sâu thêm các nhân tố ảnh hưởng đến tình trạng mắc bệnh lao và lao đa kháng thuốc là điều quan trọng điểm kiểm soát dịch bệnh.

    Bệnh lao ở TP.HCM: Ai dễ bị tổn thương?

    Nghiên cứu này sử dụng dữ liệu về bệnh nhân đăng ký điều trị bệnh lao ở các bệnh viện công tại 23 phường của TP.HCM, từ tháng 1/2020 đến tháng 4/2023.

    Các nhà khoa học đã phân tích thông tin của từng cá nhân để miêu tả về gánh nặng của lao ở TP.HCM và đặc điểm của các ca bệnh lao, đồng thời sử dụng dữ liệu cấp quận để thiết kế thông tin sinh thái, miêu tả được các nhân tố ở cấp quận liên quan đến gánh nặng lao.

    Theo phân tích của các nhà nghiên cứu, từ tháng 1/2020 đến tháng 4/2023 tại TP.HCM có tổng số 36.089 người đăng ký điều trị bệnh lao và 1.451 người mắc lao đa kháng thuốc (họ đã loại trừ một số người mắc bệnh sống ngoài TP.HCM).

    Phân tích những thông số sâu hơn thì trong đó có 67.7% nam và 32,3% nữ; 81% sống ở thành thị; độ tuổi trung bình 45; 5% đồng nhiễm HIV; 31.999 trường hợp mắc không có tiền sử về bệnh lao, 5.516 trường hợp có tiền sử lao. Trong số các trường hợp đăng ký điều trị lao đa kháng thuốc, 2% không có tiền sử lao và 14% trường hợp có tiền sử lao.

    Vi khuẩn hình que Mycobacterium tuberculosis.
    Vi khuẩn hình que Mycobacterium tuberculosis.

    Sự phân bố không đồng đều của bệnh lao

    Tháp dân số không đối xứng cho thấy gánh nặng bệnh lao nhạy cảm với thuốc và lao đa kháng thuốc thuộc về nhóm nam ở độ tuổi trung niên và tăng theo độ tuổi, tương đồng với kết quả điều tra tỷ lệ mắc lao toàn quốc lần thứ hai tại Việt Nam và các nghiên cứu khác.

    Mô hình thống kê cho thấy, các điểm nóng bệnh lao xuất hiện ở nhiều nơi thuộc trung tâm TP.HCM, cho cả lao nhạy thuốc và lao đa kháng thuốc trong khi ít hơn ở phía Bắc trung tâm.

    Sự không đồng nhất về tỉ lệ mắc, cho cả hai dạng lao, đều xuất hiện ở các khu vực này. Với lao nhạy thuốc, dù phần lớn tập trung ở các phường ở khu vực trung tâm nhưng khu vực xung quanh có tỉ lệ cao thấp khác nhau; với lao đa kháng thuốc đều phân thành các cụm với tỉ lệ mắc cao, chỉ dấu có sự tương đồng nhiều hơn.

    Sự khác biệt về giới tính của hai dạng lao cho thấy sự tương tác phức tạp giữa các yếu tố sinh học, hành vi và môi trường. Sự xuất hiện của lượng mắc HIV nhấn mạnh sự đóng góp tiềm tàng của HIV vào lao, ngay cả ở những nơi có tỷ lệ mắc HIV tương đối thấp.

    Kết luận

    Kết quả nghiên cứu cho thấy, việc ước tính tỷ lệ mắc bệnh lao nhạy thuốc và lao đa kháng thuốc ở TP.HCM thấp hơn đáng kể so với ước tính của WHO đối với Việt Nam, mặc dù có bằng chứng về việc TP.HCM có một số tỷ lệ mắc bệnh lao cao nhất cả nước.

    Mặt khác, tỷ lệ mắc bệnh lao ở TP.HCM không liên quan đến nghèo đói, mặc dù đây là một yếu tố rủi ro. Thay vào đó, sự tập trung gánh nặng bệnh lao ở đây liên quan đến các yếu tố như phân bố giới tính và tỷ lệ lưu hành HIV.

    Đọc nghiên cứu.

    Viết bởi Thanh Nhã cho Tạp chí Tia Sáng.

  • Tuberculosis in Ho Chi Minh City: Who’s at Risk? 

    Tuberculosis in Ho Chi Minh City: Who’s at Risk? 

    Tuberculosis as a Global Health Threat

    Tuberculosis (TB) remains a significant global health threat, with progress in controlling the disease disrupted by the COVID-19 pandemic. In 2021, TB claimed 10.6 million lives, while over 1.6 million people fell ill.

    The global burden of TB is disproportionately concentrated in 30 countries with limited resources, where 90% of cases occur. This uneven distribution is likely influenced by a complex interplay of factors, including the infected and susceptible individuals, characteristics of TB bacteria, environmental conditions, and socioeconomic factors like poverty.

    According to the Ministry of Health, Vietnam ranks 16th out of 30 countries for drug-susceptible TB (DS-TB) cases, and 13th globally for the highest burden of multidrug-resistant TB (MDR-TB). A deeper understanding of the factors influencing TB and MDR-TB is crucial for disease control.

    TB in Ho Chi Minh City: Who’s Most Vulnerable?

    This study examined TB patients treated at state-owned hospitals in 23 Ho Chi Minh City districts from January 2020 to April 2023. The researchers analysed detailed information about individual TB cases in the city, including patient demographics and disease characteristics. They also examined district-level data to identify factors that might contribute to the spread of TB in different parts of the city.

    Analysis from January 2020 to April 2023 revealed 36,089 people registered for DS-TB treatment in Ho Chi Minh City, with 1,451 cases of MDR-TB (excluding cases involving people living outside the city).

    Most cases were male (67.7%) and lived in urban areas (81%). The average age was 45. About 5% also had HIV. Nearly 32,000 cases never had TB before, while 5,516 had a history of the disease. Among those getting MDR-TB treatment, 2% got TB for the first time, and 14% had had TB in the past.

    Mycobacterium tuberculosis rod-shaped bacteria

    Mapping the Uneven Distribution of TB

    Most DS-TB and MDR-TB cases occurred in middle-aged men, and the burden increased with age. This is consistent with the results of Vietnam’s second national TB prevalence survey and other studies.

    The study identified central Ho Chi Minh City as a hotspot for both DS-TB and MDR-TB, while the northern area witnessed notably lower cases.

    The number of TB cases varied greatly across districts for both types. DS-TB cases were mainly concentrated in central districts, with prevalence rates varying in the surrounding areas. In contrast, MDR cases tended to cluster in areas with already high TB cases, indicating a more consistent distributing pattern.

    Differences between men and women in both types of TB show how biology, behaviour, and the environment all play a role. There is a link between HIV levels and TB cases, even in areas with relatively low HIV rates.

    Conclusion 

    The study found that the estimated rate of both DS-TB and MDR in Ho Chi Minh City was much lower than the WHO’s estimate for Vietnam. This was surprising because Ho Chi Minh City is known for having high TB rates in Vietnam. This is likely due to underreporting of TB, as many people with TB may be undiagnosed.

    Moreover, the study showed that estimates of poverty within districts were not significantly linked to the rates of TB. Instead, gender and HIV prevalence were more closely linked to the disease burden.

    Read the paper

    Written by Thanh Nhan for Tia Sang Magasine