Author: Tuyet Anh Tran

  • Người trẻ đóng vai trò quan trọng trong Phòng chống Kháng Kháng Sinh

    Người trẻ đóng vai trò quan trọng trong Phòng chống Kháng Kháng Sinh

    Kháng kháng sinh (KKS) là một cuộc khủng hoảng sức khỏe và kinh tế-xã hội toàn cầu. Kháng Kháng sinh có thể xảy ra với bất kỳ ai, ở bất cứ đâu, ảnh hưởng lớn đến sức khỏe con người, động vật, và môi trường. Dù tác động vô cùng lớn, thế giới vẫn còn nhiều việc phải làm để nâng cao nhận thức của công chúng nói chung và các bên liên quan nói riêng. Một cuộc khảo sát trực tuyến do WHO tổ chức với sự tham gia của gần 200 người thuộc nhiều lĩnh vực như sức khỏe con người, động vật, thực vật và môi trường, đã cho thấy tính cấp thiết và nhu cầu nâng cao nhận thức và khuyến khích hành động từ công chúng.(*)

    Hằng năm, WHO chọn tuần lễ ngày 18-24/11 là Tuần lễ Nhận thức về Kháng kháng sinh Thế giới. Chiến dịch năm nay kêu gọi cộng đồng toàn cầu cần có nhiều hành động hơn để truyền tải kiến thức về AMR (giáo dục), vận động cam kết, và thực hiện hành động đối phó.

    Mỗi người trẻ đều có thể trở thành Đại sứ Kháng Kháng Sinh

    Giá»›i trẻ có thể đóng má»™t vai trò quan trọng trong cuá»™c chiến chống lại KKS. Không chỉ là lá»±c lượng nền móng cá»§a tương lai, tại nhiều quốc gia, người trẻ độ tuổi từ 18 – 40 đã và Ä‘ang được hưởng lợi từ chương trình giáo dục quốc gia đổi má»›i, tích hợp nhiều môn khoa học hiện đại, giúp họ dá»… dàng tiếp cận vá»›i nhiều nguồn thông tin chất lượng cao, trong đó có kiến thức về AMR.

    Người trẻ còn là nhóm dân số đông đảo bậc nhất truy cập và sử dụng mạng xã hội, internet, điều này giúp họ trở thành ‘đội ngũ truyền thông’ lý tưởng cho chiến dịch chống Kháng Kháng Sinh toàn cầu. Với lợi thế giao tiếp hiệu quả thông qua các kênh phổ biến, sử dụng ngôn ngữ phù hợp, và có ảnh hưởng nhất định đến bạn bè, người trẻ có thể làm nên sự khác biệt khi được nâng cao năng lực và trao quyền.

    Dá»± án Tuổi trẻ Phòng chống Kháng kháng sinh (Youth Against Antimicrobial Resistance – YAAR!) là má»™t sáng kiến hướng đến sá»± thay đổi thông qua giáo dục. Cùng vá»›i nhóm Nghiên cứu Hành động Thanh niên, dá»± án đã tạo nên má»™t khung học tập được thiết kế để giáo dục và nâng cao nhận thức về AMR phù hợp vá»›i nhiều nhóm tuổi. Khung này là má»™t công cụ giảng dạy hữu ích tích hợp kiến thức về AMR vào bất cứ chương trình hay hoạt động giáo dục nào, giúp người trẻ trở thành phát ngôn viên chống Kháng Kháng Sinh trong tương lai, cÅ©ng như góp phần thúc đẩy khả năng đưa ra quyết định dá»±a trên khoa học, tìm kiếm tư vấn từ chuyên gia y tế trước khi sá»­ dụng kháng sinh và hiểu tầm quan trọng cá»§a tiêm chá»§ng cá»§a thế hệ này.

    Cùng cách tiếp cận vá»›i YAAR!, từ năm 2022, “Cùng người trẻ chống Kháng Kháng Sinh”, má»™t dá»± án má»›i từ OUCRU Nepal, đã thu hút sá»± tham gia cá»§a thanh niên từ nhiều bối cảnh khác nhau như trường học và các câu lạc bá»™ thanh niên ở Kathmandu.

    Bên cạnh đó, phòng Kết nối Khoa học với Công chúng và Cộng đồng của OUCRU Nepal cũng tổ chức nhiều buổi thảo luận giữa các nhà khoa học và người trẻ, các sự kiện công cộng định kỳ hàng năm thu hút hàng trăm người tham gia, như đua xe đạp, đi bộ marathon, cuộc thi vẽ, cuộc thi hùng biện và các quán cà phê khoa học.

    Nhóm Tư vấn Thanh niên và Nhóm Nghiên cứu Hành động Thanh niên

    Tại OUCRU, người trẻ có thể tham gia và đóng góp ý kiến vào nghiên cứu thông qua các nhóm tư vấn và nhóm nghiên cứu hành động.

    Dá»± án “Cùng người trẻ chống Kháng Kháng Sinh” đã sá»­ dụng mô hình nhóm tư vấn thanh niên để chọn hình thức và tổ chức các sá»± kiện hấp dẫn nÆ¡i thanh niên cùng biểu diá»…n kịch hài, chia sẻ câu chuyện cá nhân, và có những trải nghiệm học tập bổ ích và không nhàm chán.

    Quan điểm của giới trẻ đặc biệt quan trọng cho các dự án chuẩn bị và đối phó với các kịch bản khủng hoảng có thể xảy ra, vì đây chính là thế hệ chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi các cuộc khủng hoảng y tế trong tương lai. Trong dự án Sáng kiến Đông Nam Á Chống lại Các Biến thể SARS-CoV-2 (SEACOVARIANTS), Nhóm Nghiên cứu Hành động Thanh niên đóng vai trò quan trọng trong việc xác định khoảng hụt truyền thông giữa chính phủ/các nhà hoạch định chính sách và cộng đồng dễ bị tổn thương. Nhóm đã đề xuất và đang phát triển một khung truyền thông để có thể kết nối hiệu quả hơn với các cộng đồng này trong các tình huống dịch bệnh.

    Điểm mạnh của Giới trẻ: Sáng tạo và Đam mê

    Đại sứ Kết nối vá»›i Khoa học, má»™t dá»± án Kết nối vá»›i Thanh niên cá»§a phòng Kết Nối Khoa Học vá»›i Công chúng và Cá»™ng đồng cá»§a OUCRU, đã mang lại nhiều ý tưởng má»›i mẻ. Collab Lab là má»™t trong những thành tá»±u nổi bật cá»§a nhóm. Chọn mục tiêu giúp các bài báo khoa học về chá»§ đề y tế và môi trường toàn cầu trở nên dá»… tiếp cận và dá»… hiểu hÆ¡n, Collab Lab đã hoạt hình hóa nhiều bài báo khoa học, bao gồm các dá»± án về AMR trong nhiều lÄ©nh vá»±c như bệnh truyền từ động vật sang người, sốt xuất huyết, sốt rét v.v… Các video cá»§a Collab Lab thường bắt đầu bằng má»™t tình huống đời thường quen thuá»™c, sá»­ dụng ngôn ngữ thân thiện, xen kẽ nhiều tiếng lóng hài hước, giúp video dá»… thu hút sá»± chú ý cá»§a giá»›i trẻ hÆ¡n.

    Các hoạt động kết nối với thanh niên của OUCRU không chỉ giới hạn ở việc thành lập các nhóm tư vấn mà còn mở rộng mối quan hệ hợp tác với các trường đại học và các tổ chức thanh niên địa phương để trao quyền cho giới trẻ phát triển và triển khai các giải pháp cho chính cộng đồng của họ.

    Nhóm Kết Nối Khoa Học vá»›i Công chúng và Cá»™ng đồng cá»§a OUCRU tại Indonesia đã phối hợp vá»›i CIMSA, tổ chức há»— trợ sinh viên y khoa được thành lập từ năm 2001, thá»±c hiện loạt video phỏng vấn 3 phút vá»›i sá»± tham gia cá»§a nhiều nhóm tuổi bao gồm nhóm 18-25 tuổi và nhóm 26-45 tuổi. Video sẽ đề cập đến vấn đề lạm dụng kháng sinh ở người và khuyến khích việc sá»­ dụng kháng sinh có trách nhiệm, nhằm giúp nâng cao nhận thức và hướng đến giải quyết tình trạng sá»­ dụng thuốc không kê đơn ở Indonesia, nÆ¡i mọi người thường sẽ Ä‘i mua “mấy viên thuốc” má»—i khi cảm thấy không khỏe.

    Giới trẻ sẽ là lực lượng then chốt trong hành trình vận động thay đổi hành vi

    Cùng OUCRU nhìn lại các sản phẩm truyền thông từ hoạt động kết nối công chúng và cộng đồng để hỗ trợ phòng chống kháng kháng sinh tại đây.

    Thông qua các hoạt động này cũng như nhiều dự án trong tương lai, OUCRU hướng đến mục tiêu trao quyền cho giới trẻ trở thành những người có ảnh hưởng đến gia đình, bạn bè và cộng đồng địa phương, từ đó lan tỏa thông điệp phòng chống kháng kháng sinh cũng như thúc đẩy quá trình từ bỏ hành vi xấu, thiết lập các hành vi sử dụng kháng sinh phù hợp.

  • The Important Role of Young People in Tackling AMR  

    The Important Role of Young People in Tackling AMR  

    Antimicrobial resistance (AMR) is a growing global health and socioeconomic crisis. Regardless of its impact on human and animal health, food production, and the environment that could happen to everyone, everywhere, there’s still much to be done to raise public and stakeholder awareness. A global online survey of nearly 200 stakeholders from human, animal, plant, and environmental health sectors also highlighted the need for increased public awareness and action.(*)  
     
    November 18-24 is chosen to be World AMR Awareness Week. This year’s campaign calls on the global community to educate about AMR, advocate for commitments, and take actions in response.  
     
    Young people are ideal AMR Ambassadors  
     
    Young people are an essential demographic in the fight against AMR. Not only are they the future, but in many contexts, they’ve benefited from science-focused national educational programmes, allowing them access to evidence-based information, including AMR knowledge, thereby becoming AMR advocates.  
     
    Young people’s frequent presence on online forums and influential platforms such as social media networks makes them ideal ambassadors for spreading scientific information and awareness about AMR. When empowered, they can effectively communicate with and influence their peers through common channels, using language that appeals to them.  
     
    Aiming to drive change through education, Youth Against AMR (YAAR!) project uses a learning framework designed to advocate for AMR awareness at different levels of complexity for several age groups. This framework is a great tool to nurture young people, turn them to be our spokespeople, promote public health and science-based decisions such as seeking medical advice before using antibiotics and understanding the importance of vaccinations.  
     
    Sharing YAAR’s approach, “Fighting AMR with Youth,” a new project from OUCRU Nepal, has been engaging youths from diverse backgrounds—including schools, universities, and youth clubs across the Kathmandu Valley—since 2022.  
     
    Using interactive approaches, OUCRU Nepal’s Public and Community Engagement team has conducted several sessions between experts and youths, as well as organised public events that attract hundreds of people, such as cycle rallies, walkathons, doodle competitions, oratory competitions, and science cafés.  
     
    Youth Advisory Board and Youth Action Research Group  
     
    OUCRU encourages young people’s participation through advisory boards and action groups.  
     
    The “Fighting AMR with Youth” project receives strong support from its Youth Advisory Board. Discussions with the board helped the team organised engaging events where youth performed funny plays and share personal stories, ensuring impactful and entertaining learning experiences.  
     
    Young people’s perspectives are especially important for future preparedness, as they’ll be directly affected by future health crises. In the Southeast Asia Initiative to Combat SARS-CoV-2 Variants (SEACOVARIANTS) project, the Youth Action Research Group plays an important role in identifying communication gaps between policymakers and hard-to-reach communities. They’re developing a framework for effective communication and engagement in future public health epidemics.  
     
    Young People’s Strengths: Creativity and Passion  
     
    Youth Science Ambassadors, another Youth Engagement project of OUCRU’s Public and Community Engagement, has brought fresh ideas to the table. Collab Lab is one of their achievements. As part of the project’s mission to make scientific publications more accessible and understandable, Collab Lab has animated several publications from OUCRU and other research institutes, including projects on AMR in fields such as zoonosis, dengue, and malaria. Collab Lab’s videos typically begin with a relatable situation using informal, youth-friendly language and humorous slang, helping to capture young people’s attention.  

    OUCRU’s youth engagement isn’t limited to establishing in-house groups; we also partner with local universities and youth organisations to empower young people to develop and execute solutions themselves.

    OUCRU’s Public and Community Group in Indonesia has reached out to CIMSA, an organisation supporting and empowering medical students since 2001. With OUCRU’s support, CIMSA members will create a series of 3-minute videos interviewing several people, including young people aged 18-25 and members of the general public aged 26-45. The video will not only look into general understanding of antibiotics, but also address the general behaviours and the problem of antibiotic misuse among Indonesians, thereby promote responsible use, aiming to tackle the common situation in Indonesia where people often buy “a few pills” whenever they feel unwell.

    CIMSA-OUCRU’s video also features reactions from Dr Robert Sinto, Sp.PD, K-PTI, DPhil, Scientist, OUCRU Indonesia and RSCM FK UI.

    We may face what’s called the Post-Antibiotic Era, an era where we have antibiotics, but none that can effectively kill even simple bacteria. This is referred to as the “silent killer,” as the world is gradually heading toward such a state without us realising it.

    – Dr Robert Sinto, Sp.PD, K-PTI, DPhil

    For some people, antibiotics are used for general medications every time they’re sick. Is using antibiotics for simple infection good or bad? How do actually antibiotics work until they can become resistant? How can we restrain antimicrobial resistance before facing the post-antibiotic era?  

    Behavioral change can be advocated through young people.

    For World AMR Awareness Week 2024, let’s have a look at young people’s achievements in the fight against AMR alongside OUCRU’s researchers.

    By building young people’s capacity and empowerting them to implement these initiatives, we aim to let them to influence their families, friends, and local communities, thereby amplifying the message and leading to long-term habit changes.

    Have a look at all Public and Community Engagement AMR materials produced by and for young people as well as local community here.

  • Bioethics Grant Awardees Webinar: Highlighting the Importance of Bioethics in Research

    Bioethics Grant Awardees Webinar: Highlighting the Importance of Bioethics in Research

    Recognising that bioethics is an essential part of research, particularly in biology and medicine, the Southeast Asia (SEA) Bioethics Network was established with support from the Wellcome Trust Research Development Award.

    The network is dedicated to publicise the bioethics approaches across Southeast Asia by promoting a deeper understanding and application of ethical principles in biological and medical research throughout the region. It also encourages innovative projects that address emerging ethical challenges and opportunities, aligning with international developments in the field.

    Recently, the network awarded four research grants to enable researchers to have a deeper look and application into several ethical issues in the SEA context. We invite you to a webinar featuring presentations on the following bioethics topics.

    The webinar aims to familiarise the wider community with important bioethics topics in SEA as well as provide a collaborative platform for researchers to receive feedback and thereby improve their work. Ultimately, the network would like to strengthen and contribute to the global discourse on ethical issues in biological and medical research.

    • Taking Traditional Medicines Seriously: Towards an Interdisciplinary Research Agenda in South-East Asia
    • Conceptualising Patient Autonomy in Decision-Making in South-East Asian Culture: Insights from the Indonesian Context
    • Journey Home to Die – Exploring Ethical and Sociocultural Aspects of Hospital Discharge at End of Life
    • Bioethical Aspects Related to Dignity in Caring for Patients with Transfusion-Dependent Thalassemia: A Qualitative Study in West Java, Indonesia

    The webinar will take place online via Zoom at 3 PM, December 12, 2024. Register here.

  • Chẩn Ä‘oán sá»›m TBM bằng công nghệ gen có thể giúp nâng cao chất lượng cuá»™c sống cá»§a bệnh nhân

    Chẩn đoán sớm TBM bằng công nghệ gen có thể giúp nâng cao chất lượng cuộc sống của bệnh nhân

    Việt Nam vẫn là quốc gia có gánh nặng bệnh lao cao, trong đó lao màng não thường khó chẩn đoán, thường dẫn đến di chứng thần kinh nghiêm trọng ở bệnh nhân.

    Trong số các bệnh liên quan đến lao, lao màng não có tỷ lệ tử vong cao nhất ở trẻ sơ sinh, dao động từ 20-50%. Một trong những thách thức lớn nhất trong việc chẩn đoán lao màng não là các triệu chứng lâm sàng của nó khá giống với các bệnh nhiễm trùng thần kinh trung ương khác.

    Mặc dù là bệnh nguy hiểm, lao màng não có thể được phòng ngừa bằng vắc-xin BCG (Bacille Calmette-Guérin). Tuy nhiên, trong một khảo sát nhanh tại bệnh viện, nhiều phụ huynh đã thừa nhận không nhớ con đã tiêm chủng hoặc đã tiêm đủ hay chưa.

    Với mục tiêu tập trung vào các vấn đề sức khỏe toàn cầu, Collab Lab, sáng kiến của nhóm Đại sứ Kết nối Khoa học do nhóm Kết nối Khoa học với Công chúng và Cộng đồng hỗ trợ thực hiện, đã chọn bài báo khoa học về những phát hiện mới trong phương pháp chẩn đoán sớm lao màng não. Video hoạt hình hóa giải thích bài báo khoa học này giúp góp phần nâng cao nhận thức về bệnh lao nói chung, đặc biệt là lao màng não, và tầm quan trọng của việc tiêm vắc-xin BCG cho trẻ em.

    “Tôi tưởng lao chỉ ảnh hưởng đến phổi”.

    Theo báo cáo năm 2020 của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), Việt Nam xếp thứ 10 trong số 30 quốc gia có số ca mắc lao cao nhất và đứng thứ 11 về gánh nặng bệnh lao kháng đa thuốc trên toàn cầu. Hàng năm, Việt Nam ghi nhận hơn 172.000 ca mắc lao và 10.400 ca tử vong do bệnh này. Riêng tại Thành phố Hồ Chí Minh, 6 tháng đầu năm 2022 đã ghi nhận hơn 8.434 ca mắc lao, tăng hơn 33% so với cùng kỳ năm 2021(2).

    Lao màng não xuất hiện khi vi khuẩn lao xâm nhập vào cơ thể và theo đường máu đến tấn công não và màng não. BS Trương Hữu Khanh, Phó chủ tịch Liên Chi hội Bệnh truyền nhiễm TP HCM, cho biết lao màng não có số tử vong cao nhất trong các bệnh lý về lao ở trẻ sơ sinh, với tỷ lệ tử vong từ 20-50%.

    Hơn 50% bệnh nhân qua khỏi vẫn phải chịu những di chứng thần kinh nghiêm trọng như bại não, liệt chi, động kinh, câm, điếc hoặc mù. Bệnh nhân cũng có thể có những biến chứng nặng nề về lâu dài như sa sút trí tuệ, tổn thương thần kinh và rối loạn tâm thần(1).

    Một trong những thách thức lớn nhất trong việc chẩn đoán lao màng não là bệnh khởi phát bởi các triệu chứng không đặc hiệu, khá giống với các bệnh nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương khác. Nếu được phát hiện sớm trong chẩn đoán và điều trị lao màng não, tỉ lệ tử vong và di chứng do bệnh có khả năng giảm đi đáng kể.

    Phát hiện mới mang tính đột phá trong chẩn đoán sớm lao màng não sử dụng công nghệ gen.

    Các báo cáo gần đây đã phát hiện một số gen nhất định—GPB5, DUSP3 và KLF2 — có những thay đổi biểu hiện đáng chú ý ở bệnh nhân mắc lao phổi. Tuy nhiên, liệu những dấu hiệu gen này có đủ đáng tin cậy để áp dụng trong việc phát triển các bộ công cụ xét nghiệm lao màng não nhanh và chính xác hơn các loại xét nghiệm khác trên thị trường.

    BS Julie Huynh, Bác sĩ Nghiên cứu Lâm sàng Nhi khoa cho biết, cô hi vọng nghiên cứu này của cô và các cộng sự sẽ đóng góp vào việc cải thiện tốc độ và độ chính xác trong chẩn đoán lao màng não, từ đó nâng cao chất lượng điều trị và giảm di chứng cho bệnh nhân.

    Nâng cao nhận thức của cộng đồng về lao và lao màng não đóng vai trò quan trọng trong nâng cao tỷ lệ tiêm vắc-xin BCG ở trẻ em.

    Trong một khảo sát nhanh, nhiều phụ huynh có trẻ mắc lao màng não thừa nhận trẻ chưa được tiêm ngừa lao, hoặc phụ huynh không nhớ con đã tiêm vaccine chưa, hay trẻ đã tiêm nhưng vết tiêm nhỏ, không đạt được hiệu quả phòng ngừa.

    Hướng đến mục tiêu giải thích mức độ nguy hiểm của lao và lao màng não, đặc biệt đối với trẻ em, đồng thời nhấn mạnh tầm quan trọng của nghiên cứu trong việc chẩn đoán sớm căn bệnh nguy hiểm này, nhóm Collab Lab đã chọn một cách tiếp cận thú vị và hài hước để giải thích kết quả nghiên cứu một cách dễ hiểu đối với công chúng.

    Nhóm hi vọng cách tiếp cận mới lạ này sẽ giúp thông tin nghiên cứu gen phức tạp trở nên dễ tiếp cận hơn đối với đại chúng, đặc biệt là nhóm người trẻ, những người có thể đóng vai trò quyết định trong việc cải thiện tỷ lệ tiêm chủng vắc-xin lao tại Việt Nam.

    Tài liệu tham khảo:

    1. Huynh J, Nhat LHT, Bao NLH, Hai HT, Thu DDA, Tram TTB, Dung VTM, Vinh DD, Ngoc NM, Donovan J, Phu NH, Van Thanh D, Thu NTA, Bang ND, Ha DTM, Nghia HDT, Van Tan L, Van LH, Thwaites G, Thuong NTT. The Ability of a 3-Gene Host Signature in Blood to Distinguish Tuberculous Meningitis From Other Brain Infections. J Infect Dis. 2024 Aug 16;230(2):e268-e278. doi: 10.1093/infdis/jiad606. PMID: 38169323; PMCID: PMC11326836. 

    2. https://vnexpress.net/who-canh-bao-so-ca-benh-lao-tang-cao-ky-luc-4810615.html  

    3, 4. https://vnexpress.net/nhieu-em-be-mac-lao-mang-nao-nhap-vien-4546696.html 

  • Applying genetic technology for early TBM diagnosis helps to enhance patients’ quality of life

    Applying genetic technology for early TBM diagnosis helps to enhance patients’ quality of life

    Vietnam remains a country with a high tuberculosis burden, with tuberculous meningitis (TBM) being particularly challenging to detect early, often leading to severe neurological sequelae in patients. 

    TBM has a mortality rate of 20%–50%, and neuro-disability occurs in up to 50% of survivors(1). One of the biggest challenges in diagnosing TBM is that its clinical symptoms are quite similar to other brain infections. 

    Despite its dangers, TBM can be prevented with the BCG vaccine (Bacille Calmette-Guérin). However, many parents have admitted that their children either haven’t been vaccinated at all or don’t have up-to-date vaccinations. 

    With the mission of addressing global health issues, Collab Lab, an initiative led by OUCRU’s Public and Community Engagement group, has chosen to animate a publication about TBM, aims to raise awareness about tuberculosis in general, TBM, and the importance of BCG vaccination for children. 

    “I thought TB only affects the lungs”. 

    According to the World Health Organization’s (WHO) 2020 report, Vietnam ranks 11th among 30 countries with the highest number of tuberculosis cases and 1st in terms of multidrug-resistant tuberculosis burden globally(2). Annually, Vietnam records over 172,000 tuberculosis cases and 10,400 deaths due to the disease. In Ho Chi Minh City alone, the first six months of 2022 saw more than 8,434 tuberculosis cases, an increase of over 33% compared to the same period in 2021(3). 

    Tuberculous Meningitis is a severe form of tuberculosis that affects the membranes covering the brain and spinal cord. Dr. Truong Huu Khanh, Vice President of the Ho Chi Minh City Infectious Diseases Association, states that tuberculous meningitis has the highest mortality rate among tuberculosis-related diseases in newborns, with a mortality rate of 20-50%(4).  

    More than 50% of survivors have severe neurological sequelae such as cerebral palsy, limb paralysis, epilepsy, muteness, deafness, or blindness. Patients may also develop other long-term complications like dementia, nerve damage, and mental disorders. 

    One of the biggest challenges in diagnosing TBM is that its clinical symptoms are quite similar to other brain infections. Therefore, early diagnosis before brain damage occurs is the most important prognostic factor for survival and the extent of sequelae impact on patients. 

    Diagnosing TBM using genes 

    Recent reports have shed new light on diagnosing TBM. They’ve discovered that certain genes—GPB5, DUSP3, and KLF2—show significant expression changes in patients with pulmonary tuberculosis. The question now is whether these genetic markers are reliable enough to be applied in the early diagnosis of tuberculous meningitis. 

    A recent publication by Dr Julie Huynh, Clinical Research Paediatrician at OUCRU, aims to develop a simple and effective test for TBM. This test could distinguish TBM from other brain infections, thereby enhance the speed and accuracy of diagnosing TBM, improve treatment quality and reduce sequelae for patients with TBM. 

    Raising awareness of TB vaccines is essential to improve vaccine uptake 

    Other than the challenges in diagnosis, the awareness of the importance of TB vaccines among parents is another factor affecting children’s TBM infection rates. Several families with TBM child patients admitted that their children had not received the BCG vaccine or couldn’t remember if their children had been vaccinated at all. 

    By animating Dr Julie Huynh’s TBM project, Collab Lab seeks to explain TBM’s danger to the human brain, emphasise the significance of early accurate diagnosis, and marking this new milestone in the fight against TB in general and TBM in particular. 

    Collab Lab’s animated explainer videos aim to make complex genetic research information more accessible to a wider audience, particularly young people, who may play a decisive role in increasing TB vaccine uptake in Vietnamese society. 

    Reference:  

    1. Huynh J, Nhat LHT, Bao NLH, Hai HT, Thu DDA, Tram TTB, Dung VTM, Vinh DD, Ngoc NM, Donovan J, Phu NH, Van Thanh D, Thu NTA, Bang ND, Ha DTM, Nghia HDT, Van Tan L, Van LH, Thwaites G, Thuong NTT. The Ability of a 3-Gene Host Signature in Blood to Distinguish Tuberculous Meningitis From Other Brain Infections. J Infect Dis. 2024 Aug 16;230(2):e268-e278. doi: 10.1093/infdis/jiad606. PMID: 38169323; PMCID: PMC11326836. 

    2. https://vnexpress.net/who-canh-bao-so-ca-benh-lao-tang-cao-ky-luc-4810615.html  

    3, 4. https://vnexpress.net/nhieu-em-be-mac-lao-mang-nao-nhap-vien-4546696.html 

  • Sốt xuất huyết: liệu muá»—i vằn con có phải là mối hiểm họa tiềm tàng?

    Sốt xuất huyết: liệu muỗi vằn con có phải là mối hiểm họa tiềm tàng?

    Với số ca tăng gấp 10 lần trong hai thập kỷ qua, Tổ chức Y tế thế giới (WHO) xếp hạng sốt xuất huyết đứng đầu trong 10 mối đe dọa nghiêm trọng đến sức khỏe toàn cầu.(1) Trong bối cảnh biến đổi khí hậu, cuộc chiến chống lại sốt xuất huyết trở nên phức tạp hơn do những thay đổi không lường trước được trong hành vi và phân bố địa lý của muỗi vằn, vật chủ chính của virus dengue gây bệnh sốt xuất huyết.

    Thông thường, để phòng chống sốt xuất huyết, các cÆ¡ quan y tế và chính phá»§ thường tuyên truyền ngăn ngừa muá»—i (trưởng thành) đốt. Khi các nhà khoa học xác nhận cÆ¡ chế lây truyền dọc – muá»—i mẹ nhiá»…m dengue truyền virus cho muá»—i con, má»™t câu hỏi được đặt ra: virus dengue được lây truyền theo cÆ¡ chế dọc như vậy liệu có khả năng gây bệnh cho con người. Nếu có, chúng ta sẽ phải đối mặt vá»›i má»™t hiểm họa má»›i chưa từng được quan tâm trước đây, muá»—i vằn con.

    Cơ chế lây truyền của virus dengue

    Cùng tìm hiểu hai cơ chế lây truyền chủ yếu của virus dengue.

    Sốt xuất huyết được gây ra bởi virus Dengue và được lây truyền bởi vector trung gian là muỗi; trong đó chủ yếu qua Muỗi vằn (Aedes aegypti) và Muỗi hổ (Aedes albopictus).

    Virus Dengue được duy trì một cách tự nhiên theo con đường lây truyền ngang (Horizontal transmission) giữa muỗi với người. Khi những con muỗi cái sinh sản, chúng có nhu cầu protein để phát triển trứng; do đó chúng sẽ tìm hút máu các loài động vật, trong đó có con người. Khi con người bị muỗi đốt, virus Dengue từ muỗi cái đã nhiễm xâm nhập sang cơ thể người lành và ngược lại.

    Tuy nhiên vẫn còn má»™t cÆ¡ chế khác để virus duy trì sá»± tồn tại trong tá»± nhiên, chính là con đường lây truyền dọc (Vertical transmission). Má»™t số nghiên cứu đã chỉ ra rằng trong môi trường không thuận lợi như: virus Dengue không tìm được ký chá»§ là con người, Ä‘iều kiện khí hậu khắc nghiệt,…; virus Dengue có thể lây truyền từ muá»—i mẹ sang muá»—i con để tồn tại.

    Với nhiều yếu tố về ngoại cảnh và tần suất lây truyền, rất khó để có thể xác định rằng liệu muỗi cái bị nhiễm virus Dengue (bắt từ thực địa) đã mang virus này thông qua con đường lây truyền theo chiều ngang hay chiều dọc. Ngoài ra, cũng không thể chắc chắn rằng những thế hệ muỗi sau đó mang virus được lây truyền từ muỗi mẹ có đủ khả năng tiếp tục lây bệnh cho con người.

    Việc trả lời câu hỏi này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh môi trường sống và điều kiện thời tiết thay đổi, hành vi và phạm vi hoạt động của muỗi vằn ngày càng khó dự đoán. Việc liên tục tìm hiểu và đào sâu kiến thức về virus dengue sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách y tế công cộng phát triển các chiến lược phòng ngừa hiệu quả hơn.

    Collab Lab mong muốn nâng cao nhận thức công chúng về phòng ngừa sốt xuất huyết để bảo vệ cả gia đình.

    Tổ chức Y tế Thế giá»›i WHO vẫn xếp sốt xuất huyết vào top 10 mối Ä‘e dọa nghiêm trọng đến sức khỏe toàn cầu, diá»…n biến dịch bệnh này ở Việt Nam ngày càng phức tạp. Riêng giai Ä‘oạn 2019 – 2023, Việt Nam đã trải qua hai đỉnh dịch sốt xuất huyết lá»›n vá»›i số ca ká»· lục 367.729 trường hợp vào năm 2022, đứng thứ hai toàn cầu, chỉ sau quốc gia Brazil.(2)

    Với sứ mệnh giúp các bài báo khoa học trở nên dễ tiếp cận và dễ hiểu hơn với công chúng, từ khi dự án bắt đầu vào năm 2022, Collab Lab luôn ưu tiên các nghiên cứu liên quan đến sức khỏe cộng đồng và toàn cầu như bệnh truyền nhiễm phổ biến ở khu vực nhiệt đới (như Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung), sức khỏe tâm thần, biến đổi khí hậu v.v..

    Nhằm khuyến khích công chúng thực hiện nhiều hành động hơn để bảo vệ bản thân, gia đình, và cộng đồng khỏi sốt xuất huyết, cũng như truyền thông về cơ chế lây truyền của sốt xuất huyết nói riêng và nâng cao hiểu biết về khoa học của công chúng nói chung, Collab Lab đã quyết định chọn hoạt hình hóa dự án tìm hiểu về cơ chế lây truyền dọc và khả năng lây nhiễm sốt xuất huyết của muỗi vằn con nhận virus dengue từ mẹ. Dự án này do nhóm nghiên cứu thuộc phòng Sốt Xuất Huyết Dengue của OUCRU thực hiện.

    Để biết được cuối cùng thì muỗi vằn con có khả năng lây truyền sốt xuất huyết dengue cho người từ virus được truyền từ mẹ hay không, cùng đón xem tập đầu tiên của Collab Lab, Mùa 3, với đội ngũ cộng tác viên khoa học trẻ hoàn toàn mới nhé.

    Tài liệu tham khảo:

    1. https://www.who.int/emergencies/disease-outbreak-news/item/2023-DON498 
    2. https://vnvc.vn/sot-xuat-huyet-tang-gap-10-lan-ca-mac-trong-2-thap-ky/  
    3. Đọc bài nghiên cứu trong video tại đây: Duong Thi Hue, K., da Silva Goncalves, D., Tran Thuy, V. et al. Wolbachia wMel strain-mediated effects on dengue virus vertical transmission from Aedes aegypti to their offspring. Parasites Vectors 16, 308 (2023). https://doi.org/10.1186/s13071-023-05921-y
  • Dengue: Are Baby Mosquitoes a Hidden Threat? 

    Dengue: Are Baby Mosquitoes a Hidden Threat? 

    Did you know that dengue fever cases have witnessed a ten-fold surge in the past two decades?(1) This tropical disease continues to be a global health situation. The fight against dengue has become increasingly complicated due to drastic changes in mosquito behavior and geographical distribution. 
     
    Traditionally, we’ve focused on preventing mosquito bites. But now, researchers are asking a crucial question: What happens when the dengue virus passes from mosquito to mosquito? Through vertical transmission — where a mother mosquito passes the virus to her offspring—could baby mosquitoes also spread dengue? If so, we’re facing a new threat and have to develop new strategies against this new enemy, baby mosquitos!   

    How Does the Dengue Virus Work? 

    Let’s first examine how the dengue virus causes disease in humans. 

    The Dengue virus typically persists through horizontal transmission. The virus is transmitted into human body through infected female mosquitoes (primarily Aedes aegypti and Aedes albopictus). 

    However, in harsh conditions—such as a lack of human hosts or extreme weather—the virus can use vertical transmission (from mother mosquitoes to baby mosquitoes) to survive. 

    This survival tactic could make controlling dengue even more challenging, especially with climate change. As living environments and weather conditions shift dramatically, mosquito behaviors and ranges are becoming unpredictable. Global researchers emphasise the importance of expanding our knowledge about dengue virus in general and their transmission in particularly to develop better prevention strategies and more effective, efficient public health responses. 

    Why Did Collab Lab Choose This Project? 

    While the World Health Organization lists dengue fever among the top 10 serious global health threats, Vietnam faces the alarming complicated dengue situation.(1) In recent years, we’ve faced two major dengue outbreaks, with a record 367,729 cases reported in 2022 alone, an all-time high.(2) 
     
    Collab Lab’s mission is to make scientific publications more accessible and easier to understand. We prioritize projects relevant to public health in Vietnam, including common tropical infectious diseases, mental health, and climate change. 
     
    Given that dengue remains a top public health threat, Collab Lab has decided to animate research on vertical transmission in mosquitoes. Our goal is to spread knowledge and encourage the public to take more actions to protect themselves from dengue. 
     
    Stay tuned and get ready for the first episode of Collab Lab, Season 3, featuring an entirely new production team! 

    Reference:  

    1. https://www.who.int/emergencies/disease-outbreak-news/item/2023-DON498 
    2. https://vnvc.vn/sot-xuat-huyet-tang-gap-10-lan-ca-mac-trong-2-thap-ky/  
    3. Duong Thi Hue, K., da Silva Goncalves, D., Tran Thuy, V. et al. Wolbachia wMel strain-mediated effects on dengue virus vertical transmission from Aedes aegypti to their offspring. Parasites Vectors 16, 308 (2023). https://doi.org/10.1186/s13071-023-05921-y
  • Sân khấu diá»…n đàn: Khám phá sức mạnh cá»™ng đồng và nâng cao nhận thức

    Sân khấu diễn đàn: Khám phá sức mạnh cộng đồng và nâng cao nhận thức

    Sân khấu diễn đàn, thuộc hình thức Sân khấu của người yếu thế, là một hình thức sân khấu tương tác và có sự tham gia được phát triển bởi đạo diễn sân khấu, biên kịch, nhà hoạt động xã hội người Brazil Augusto Boal vào những năm 1970. Phương pháp giàu tính tương tác này giúp cộng đồng (khán giả) được trao quyền để cất lên tiếng nói và từ đó nâng cao nhận thức, thay đổi hành động của họ trong các vấn đề xã hội thực tế.

    Phương pháp hoạt động

    Sân khấu Diễn đàn bắt đầu với phần biểu diễn ngắn như một vở kịch thông thường, để khán giả được nhìn thấy tình huống. Phần biểu diễn này thường sẽ có kết thúc bi thảm, tạo cơ hội để khán giả có thể thay đổi kết cục.

    Sau đó, người điều phối sẽ thông báo với khán giả vở kịch sẽ được diễn lại, nhưng lần này, họ (khán giả) có quyền can thiệp, đề xuất giải pháp để giải quyết các vấn đề đang xảy ra, từ đó tạo nên kết cục tốt đẹp.

    Vở kịch cũng có thể kết thúc với một tình huống chưa được giải quyết, mời gọi các thành viên khán giả bước vào và đề xuất giải pháp bằng cách thay thế nhân vật và diễn xuất các kịch bản thay thế.

    Sơ đồ cách thức một buổi sân khấu diễn đàn điển hình được thực hiện.

    Sân khấu diễn đàn giúp nâng cao sự tham gia của cộng đồng

    • Tham gia tích cá»±c: Không còn chỉ thụ động ngồi xem như vở kịch thông thường, các khán giả trở nên tích cá»±c hÆ¡n và cùng tham gia thảo luận để giải quyết vấn đề.
    • Trao quyền: Phương pháp này trao quyền cho những cá nhân yếu thế, nói lên những vấn đề họ Ä‘ang gặp phải, giúp họ có tiếng nói trong việc nêu lên giải pháp cho những thách thức trong cuá»™c sống thá»±c tế.
    • Giải quyết vấn đề: Khuyến khích các thành viên cá»™ng đồng làm việc cùng nhau để tìm ra giải pháp cho các vấn đề chung mà vở kịch đưa ra.
    • Không gian an toàn để thảo luận: Sân khấu diá»…n đàn tạo nên má»™t môi trường an toàn cho những người yếu thế, giúp họ cảm thấy thoải mái trong việc thảo luận về các vấn đề nhạy cảm hoặc gây tranh cãi vá»›i những khán giả khác.

    Sân khấu diễn đàn là hình thức truyền thông giúp nâng cao nhận thức hiệu quả

    • Kết nối cảm xúc: Khi người tham gia được đặt mình vào vị trí cá»§a các nhân vật khác nhau, họ sẽ có sá»± đồng cảm hÆ¡n.
    • Hình ảnh hóa vấn đề: Các vấn đề xã há»™i phức tạp được trình bày dưới dạng hữu hình, dá»… liên tưởng.
    • Phản biện tức thì: các giải pháp do khán giả (cá»™ng đồng) đề xuất sẽ được công chúng phản biện tức thì. Điều này vừa giúp nâng cao tư duy phản biện, vừa mang lại góc nhìn Ä‘a chiều cho giải pháp, giúp cá»™ng đồng tìm được giải pháp thá»±c tế nhất cho vấn đề cá»§a mình.
    • Khả năng tiếp cận: Kịch nói riêng và nghệ thuật nói chung phá vỡ rào cản ngôn ngữ và trình độ học vấn, giúp thông tin dá»… tiếp cận hÆ¡n vá»›i đối tượng khán giả Ä‘a dạng.

    Sân khấu diễn đàn và dự án Uốn uốn ván

    Từ một cuộc khảo sát nhanh về mức độ quan tâm đối với 10 bệnh truyền nhiễm phổ biến, uốn ván là bệnh ít được quan tâm thứ hai. Điều này dấy lên hồi chuông báo động về nhận thức đúng trong giới trẻ đối với căn bệnh nguy hiểm này, đặc biệt khi số ca uốn ván tại Việt Nam vẫn còn cao so với 20 năm trước.(1)

    Bên cạnh tính chất nguy hiểm, tá»· lệ tá»­ vong cao (25 – 90% ở trẻ sÆ¡ sinh(2)), chi phí Ä‘iều trị uốn ván rất cao. Tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt Đới, chi phí Ä‘iều trị ước tính cá»§a má»™t ca uốn ván nặng và phức tạp có thể lên đến 200 triệu đồng.(3)

    Nhận thấy tầm quan trọng cần nâng cao nhận thức của công chúng về mức độ nguy hiểm của bệnh uốn ván và khuyến khích tiêm chủng, các Đại sứ Kết Nối Khoa học (YSAs) đã quyết định chọn sân khấu diễn đàn làm công cụ truyền thông giúp thu hút nhiều người trẻ hơn, cả trực tiếp và trực tuyến.

    Đoàn kịch Uốn Uốn Ván sẽ lưu diễn tại bốn trường đại học của TPHCM bao gồm ĐHKHXH&NV, ĐH Văn Hóa, ĐH Fulbright, và ĐH Văn Lang. Các bạn sinh viên tại bốn trường này đừng quên đến xem và thử tài biên kịch thay đổi kịch bản của mình nhé.

    Nếu bạn tò mò vở kịch Uốn Uốn Ván sẽ có những cái kết bất ngờ nào do cộng đồng can thiệp và đề xuất, cùng chờ đón xem và trải nghiệm phiên bản số hóa của vở kịch này của OUCRU trong thời gian sớm nhất!

    Tài liệu tham khảo:

    1. https://pmc.ncbi.nlm.nih.gov/articles/PMC5239717/
    2. https://www.qdnd.vn/y-te/cac-van-de/nguy-kich-vi-chu-quan-voi-vet-thuong-nho-788223
    3. https://bvbnd.vn/uon-van-de-phong-ngua-van-khien-nhieu-nguoi-dan-ong-tan-doi/
  • Forum Theatre: Exploring Community’s Power and Raising Awareness 

    Forum Theatre: Exploring Community’s Power and Raising Awareness 

    Forum Theatre, a branch of the so-called Theatre of the Oppressed, is an interactive and participatory form of theatre developed by Brazilian theatre practitioner Augusto Boal in the 1970s. This unique approach has the potential to explore a community’s voice and raise awareness by empowering people with a tool that encourages them to change reality through their own suggestions for real social issues. 

    How does Forum Theatre work? 

    A Forum Theatre performance will start with a conventional play for audience to witness the situation. Then the facilitator will inform the audience that the play will play again, but this time, they, now called spec-actors, have power to intervene and try to change the consequences. The play then continues with the directions suggested by the ‘spec-actors’. 

    The play may also end with an unresolved situation, inviting audience members to step in and propose solutions by replacing characters and acting out alternative scenarios. 

    See the chart below of how a typical forum theatre performance is conducted. 

    How Forum Theatre Enhances Community Engagement 

    • Active Participation: Audience members become “spect-actors,” actively participating in problem-solving rather than passively observing like in the conventional play. 
    • Empowerment: It empowers the marginalised individuals in the audience to address real-life challenges and voice in their opinions/suggested solutions. 
    • Problem-Solving: Encourages community members to work together in finding solutions to shared problems. 
    • Safe Space for Dialogue: Forum theatre potentially becomes a safe environment for ‘the oppressed’ to discuss the sensitive or controversal problems with other people who may share the same situations. 

    Why is Forum Theatre Suitable to Raising Awareness 

    • Emotional Connection: It creates empathy by allowing participants to step into the shoes of different characters. 
    • Visualisation of Issues: Complex social problems are presented in a tangible, relatable format. 
    • Immediate Feedback: Provides instant feedback on proposed solutions, fostering critical thinking. 
    • Accessibility: It breaks down barriers of language and literacy, making information accessible to diverse audiences. 

    Forum Theatre and Protect Us from Tetanus project 

    A recent survey on young people’s interest in learning about the top 10 infectious diseases revealed that tetanus ranks second to last. The result highlights a serious potential problem that needs addressing, given that many young people in Vietnam are not vaccinated against this dangerous disease.  

    Beyond its clinical dangers, tetanus can be really costly. At the Hospital for Tropical Diseases, the estimated treatment cost for 152 tetanus cases in the Intensive Care Unit (ICU) is 8.5 billion VND(*). 

    Recognising the need for public and community engagement activities to spread the dangers of tetanus and the importance of vaccination, the Youth Science Ambassadors (YSAs) have chosen forum theatre as their communication tool. They believe this interactive approach will effectively engage more young people, both in-person and online. 

    A completely unscripted play will tour four schools in Ho Chi Minh City (University of Social Sciences and Humanities  – HCMC National University, Ho Chi Minh University of Culture, Fulbright University, and Van Lang University), offering live, in-person performances.

    For those unable to attend these on-site sessions, the community-led scenarios will be digitalised and made available online. 

    Stay tuned to discover how we engage with our audience and to experience our first forum theatre play for yourself! 

  • Đã đến lúc ưu tiên sức khỏe tâm thần tại nÆ¡i làm việc!

    Đã đến lúc ưu tiên sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc!

    Ngày 10 tháng 10 hàng năm là ngày tôn vinh Sức khỏe Tâm thần thế giới.

    Chủ đề chính thức năm nay hướng đến việc vận động cải thiện hệ thống và quy trình chăm sóc sức khỏe tâm thần tại nơi làm việc, đảm bảo nhân viên cảm thấy sức khỏe tâm thần của họ được ưu tiên, bảo vệ và khuyến khích.(*)

    Kể từ năm 2016, phòng Kết nối Khoa học với Công chúng và Cộng đồng (PCE) của OUCRU đã thực hiện nhiều sáng kiến nhằm hỗ trợ chăm sóc sức khỏe tâm thần cho nhân viên y tế (NVYT). Những nỗ lực này xuất phát từ kết quả nghiên cứu đáng báo động của BS Phạm Ngọc Thanh và nhóm PCE tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới (BVBNĐ) cho thấy 28% nhân viên y tế có dấu hiệu trầm cảm mức độ trung bình đến nặng, và 38% bị lo âu mức độ trung bình đến nặng.

    Không những vậy, trong các tình huống khủng hoảng, nhân viên y tế thường phải đối mặt với nhiều thách thức tâm lý. Vấn đề này chưa được quan tâm đúng mức.

    Vào tháng 9 năm 2024, Việt Nam đã bị siêu bão Yagi, cơn bão mạnh nhất trong 30 năm qua, tấn công. Tính đến ngày 27 tháng 9, Yagi đã trực tiếp và gián tiếp gây ra 334 ca tử vong và mất tích, với 1.976 người bị thương và chịu ảnh hưởng tâm lý sau chấn thương.

    Nghiên cứu cá»§a Mao và cá»™ng sá»± năm 2018 cho thấy việc chứng kiến trá»±c tiếp sá»± tàn phá và mất mát sinh mạng trong thiên tai và khá»§ng hoảng y tế có thể gây ra chấn thương tâm lý. Trong các cá»™ng đồng bị ảnh hưởng, nhân viên y tế – đặc biệt là những người tham gia ná»— lá»±c cứu há»™ hoặc làm việc tại các khu vá»±c bị ảnh hưởng – thường không nhận được há»— trợ phù hợp và có hệ thống.

    Nhân ngày Sức khỏe Tâm thần thế giới 2024, OUCRU phối hợp cùng BVBNĐ, Hội Tâm lý Trị liệu Việt Nam (HTLTL), và Medisetter, đồng tổ chức hội thảo trực tuyến thảo luận về các kỹ năng sơ cứu tâm lý, nâng cao nhận thức về sức khỏe tâm thần trong và sau thảm họa, và thảo luận về các chiến lược giúp NVYT chuẩn bị sức khỏe tâm thần cho các cuộc khủng hoảng trong tương lai. Hội thảo cũng đề xuất các sáng kiến thực tế hỗ trợ cho nhân viên y tế và nhà khoa học tại các khu vực bị ảnh hưởng.

    Hội thảo thu hút gần 200 người tham gia từ nhiều lĩnh vực, bao gồm nhân viên y tế, chuyên gia và sinh viên tâm lý học, và nhân viên công tác xã hội.

    Hội thảo có sự tham gia của các diễn giả uy tín như:

    • BS Phạm Ngọc Thanh, Cố vấn Tâm lý tại OUCRU, thảo luận về sÆ¡ cứu tâm lý cho nhân viên y tế và nhà khoa học trong và sau thảm họa, cÅ©ng như chuẩn bị cho các cuá»™c khá»§ng hoảng trong tương lai.
    • BS Lâm Tứ Trung, Phó Chá»§ tịch HTLTL Việt Nam, chia sẻ khía cạnh thá»±c tế cá»§a các hệ thống chăm sóc sức khỏe tâm thần hiện tại trong bối cảnh cÆ¡ sở y tế và đề xuất các giải pháp cho các thách thức tiềm ẩn.
    • Điều dưỡng CKII Nguyá»…n Thị Lệ Hồng, Trưởng phòng Công tác Xã há»™i tại HTD, nêu lên nhu cầu chăm sóc sức khỏe tâm thần thá»±c tế cá»§a nhân viên y tế và nhìn lại mức độ hiệu quả cá»§a các sáng kiến đã triển khai tại BVBNĐ để há»— trợ họ.

    Hội thảo sẽ được tổ chức trực tuyến qua Zoom và phát trực tiếp trên YouTube.

    Người tham gia đã đăng ký sẽ nhận được liên kết Zoom qua email. Đường dẫn xem trực tiếp hội thảo trên Youtube sẽ được chia sẻ sau khi hội thảo đã bắt đầu.

    Bạn vẫn còn thời gian để đăng ký tham gia hội thảo này tại đây.

    Tài liệu tham khảo:

    1. https://wmhdofficial.com/
    2. https://e.vnexpress.net/news/news/environment/yagi-s-devastation-and-aftermath-a-recap-of-vietnam-s-biggest-disaster-in-decades-4796969.html
    3. https://academic.oup.com/annweh/article/67/8/1018/7226980