Author: Chi Ngo Huyen

  • [Infographic] Opportunities and Challenges in Applying Artificial Intelligence and Digital Health Technologies in Viet Nam  

    [Infographic] Opportunities and Challenges in Applying Artificial Intelligence and Digital Health Technologies in Viet Nam  

    The paper detailed lessons learned from the Viet Nam ICU Translational Applications Laboratory (VITAL) project, which develops and implements innovative technology to improve the clinical management of infectious diseases in Viet Nam, including dengue, sepsis, tuberculosis, etc.  

    As a part of the project, researchers from OUCRU, Imperial College London, and University of Oxford, in collaboration with the Hospital for Tropical Diseases, Ho Chi Minh City have developed a novel wearable and an AI-driven clinical decision support system for dengue management.  

    In Viet Nam, a lower middle-income country, the healthcare system is in the nascent stage of implementing digital health technologies. As a result, digital health initiatives need to address challenges involving data availability and development, integration into the existing healthcare system and local workflow, understanding end users, as well as the local regulatory landscape.  

    “Digital health needs to fit within an ecosystem of moving parts,” said first author Ho Quang Chanh, PhD student at OUCRU. “Working within the local context is crucial to develop a digital health system that works for local patients, local healthcare workers, and local regulatory environment.”  

    The following infographic details opportunities to address these challenges.  

    The VITAL project is a collaboration between OUCRU and the Hospital for Tropical Diseases, Imperial College London, University of Oxford, and other partners. The implementation site is the 550-bed public Hospital for Tropical Diseases, which is a referral centre for infectious diseases for the south of Viet Nam. 

    More resources: ‘The Two Sides of Artificial Intelligence’ zine developed by Imperial College London in collaboration with the VITAL Project.  

    Citation:  

    Chanh HQ, Ming DK, Nguyen QH, Duc TM, Phuoc An L, Trieu HT, Karolcik S, Hernandez B, Perez, Van Nuil J, Lyle NN, Kestelyn E, Thwaites L, Georgiou P, Paton C, Holmes A, Van Vinh Chau N, Yacoub S. Applying artificial intelligence and digital health technologies, Viet Nam. Bull World Health Organ. 2023 Jul 1;101(7):487-492. doi: 10.2471/BLT.22.289423. Epub 2023 May 26. PMID: 37397176; PMCID: PMC10300774. 

  • TS. BS. Marlous Grijsen được trao Giải thưởng Quốc tế về Trách nhiệm Xã há»™i trong Ngành da liá»…u

    TS. BS. Marlous Grijsen được trao Giải thưởng Quốc tế về Trách nhiệm Xã hội trong Ngành da liễu

    TS. BS. Marlous Grijsen, Nhà nghiên cứu sau tiến sĩ tại OUCRU Indonesia, vừa nhận Giải thưởng Quốc tế về Trách nhiệm Xã hội trong Ngành Da liễu năm 2023 do L’oreal với sự hợp tác của Liên đoàn các Hiệp hội Da liễu Quốc tế (ILDS) và Đại hội Da liễu Thế giới (WCD) tổ chức.

    Giải thưởng công nhận các bác sĩ da liễu đang thực hiện các dự án có tác động cao trong ba hạng mục: phòng ngừa và giáo dục về sức khỏe da liễu, cải thiện chất lượng cuộc sống và lòng tự trọng cho những người gặp phải các vấn đề về da cũng như khả năng tiếp cận chăm sóc và phẫu thuật.

    Giải thưởng này ghi nhận những nỗ lực mà OUCRU Indonesia, phối hợp với Quỹ Sumba và Đại học Gadjah Mada (Yogyakarta, Indonesia), đã thực hiện để triển khai dịch vụ khám da liễu từ xa ở Sumba, Indonesia. Hòn đảo xa xôi và kém phát triển về kinh tế này chịu gánh nặng về bệnh ngoài da cao. Kể từ khi ra mắt, nền tảng này đã đào tạo và hỗ trợ 30 nhân viên y tế với mục đích điều trị cho hơn 600 bệnh nhân mắc nhiều bệnh ngoài da phổ biến và bị bỏ quên. Khoảng 10.000 bệnh nhân mắc các bệnh ngoài da đã được hưởng lợi từ sáng kiến này.

    Giải thưởng sẽ đi kèm một khoản trợ cấp €20.000 để tài trợ cho việc tiếp tục dự án. OUCRU Indonesia sẽ sử dụng khoản tài trợ này để tiếp tục giáo dục và đào tạo về các bệnh ngoài da phổ biến và bị bỏ quên, nâng cao chất lượng chăm sóc cho người dân và nâng cao năng lực tại địa phương để cung cấp các dịch vụ chăm sóc sức khỏe đa ngành.

    Tìm hiểu thêm về dự án này.

  • Dr Marlous Grijsen Awarded the International Award for Social Responsibility in Dermatology   

    Dr Marlous Grijsen Awarded the International Award for Social Responsibility in Dermatology   

    Dr Marlous Grijsen, Post-doctoral Researcher at OUCRU Indonesia, was recently awarded the 2023 International Awards for Social Responsibility in Dermatology by L’Oréal, in partnership with the International League of Dermatological Societies (ILDS) and the World Congress of Dermatology (WCD).  

    The awards recognise dermatologists leading high-impact projects in three categories: prevention and education on skin health, improved quality of life and self-esteem for people facing skin issues, and access to care coverage and surgery.  

    This award recognises the efforts that OUCRU Indonesia, in collaboration with Sumba Foundation and Gadjah Mada University (Yogyakarta, Indonesia), have made to launch a teledermatology service in Sumba, Indonesia. This remote and economically underdeveloped island has a high burden of skin diseases. Since its launch, the platform has trained and supported 30 health workers with the intent to treat over 600 patients with a broad range of common and neglected skin diseases. Around 10,000 patients who presented with skin diseases have since benefitted from the initiative.   

    Each winning project is awarded a €20,000 grant to fund its continuation. OUCRU Indonesia will use the grant for continuous education and training on common and neglected skin diseases, strengthening the quality of care for people, and increasing local capacity to deliver multidisciplinary healthcare services.  

    Learn more about OUCRU Indonesia and Sumba Foundation’s work in Sumba, Indonesia.   

  • Dá»± án cá»§a OUCRU nâng cao tá»· lệ tiêm chá»§ng trong các cá»™ng đồng dân tá»™c thiểu số ở Đắk Lắk, Việt Nam

    Dự án của OUCRU nâng cao tỷ lệ tiêm chủng trong các cộng đồng dân tộc thiểu số ở Đắk Lắk, Việt Nam

    OUCRU phối hợp với Sở Y tế Đắk Lắk và Trung tâm Kiểm soát bệnh tật (CDC) xây dựng chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho cán bộ tiêm chủng tuyến đầu, đặc biệt tập trung hỗ trợ truyền thông về vắc xin và quy trình tiêm chủng.

    So với các xã không tham gia, các xã tham gia chương trình tập huấn đã đạt tỷ lệ tiêm vắc xin nhắc lại (tiêm vét) lên tới 42%

    Chương trình đào tạo này là một phần của chương trình hợp tác kéo dài 9 năm giữa OUCRU và Sở Y tế Đắk Lắk, nhằm nghiên cứu các vấn đề trong y tế địa phương, như các bệnh lây truyền từ động vật sang người, Covid-19, và tiêm chủng.

    Để đối phó với các đợt bùng phát và các ca tử vong do các bệnh có thể phòng ngừa được bằng vắc-xin, bao gồm bệnh bạch hầu và uốn ván, năm 2016, OUCRU và CDC tỉnh đã hợp tác thực hiện chương trình nghiên cứu định tính và định lượng về tiếp cận vắc-xin ở các nhóm yếu thế và đánh giá các biện pháp can thiệp có sự tham gia của cộng đồng.

    Vào ngày 18 tháng 5 năm 2023, OUCRU và CDC Đắk Lắk đã tổ chức một sự kiện để kỷ niệm những tiến bộ đạt được trong việc cải thiện tỷ lệ tiêm chủng trong các cộng đồng dễ bị tổn thương nhất của tỉnh. Các mô-đun đào tạo mới đã được giới thiệu, bên cạnh kết quả đào tạo thí điểm tại 17 xã của huyện Cư M’gar.

    Sự kiện có sự tham gia của Viện Vệ sinh Dịch tễ Trung ương, Sở Ngoại vụ, Sở Kế hoạch và Đầu tư cùng các cán bộ y tế tuyến huyện, xã, thôn buôn.

    “Trước khi triển khai tập huấn, 52 xã trên 184 xã của toàn tỉnh Dak Lak thuộc vùng lõm tiêm chủng. Chúng tôi rất trăn trở làm sao để vực dậy kết quả tiêm chủng trên vùng lõm này. Trước đại dịch Covid-19, kiến thức, thái độ và hành vi của người dân về tiêm chủng rất tốt. Nhưng sau giai đoạn Covid, việc hưởng ứng tiêm chủng gặp vấn đề. Việc nâng cao năng lực cho cán bộ y tế tuyến đầu vì vậy đặ biệt quan trọng để vực dậy tỉ lệ tiêm chủng.

    BS. Lê Phúc, Phó Giám đốc CDC Đắk Lắk chia sẻ trong cuộc họp.

    Các thách thức trong hệ thống

    Theo tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ tiêm chủng ở Việt Nam được báo cáo là rất cao. Tuy nhiên, những đợt bùng phát dịch bệnh sởi, bạch hầu và uốn ván sơ sinh, đều là những bệnh có thể phòng ngừa bằng vắc-xin, cho thấy tỷ lệ tiêm chủng không đồng đều trên toàn quốc. Các đợt bùng phát ở khu vực nông thôn chủ yếu xảy ra trong các cộng đồng dân tộc thiểu số.

    Giai đoạn đầu tiên của dự án của chúng tôi đã xem xét những thách thức mà các thành viên cộng đồng gặp phải khi đi tiêm chủng và nhân viên y tế gặp phải khi làm việc với các thành viên cộng đồng.

    Nghiên cứu của ThS. Nguyễn Thanh Hà, Nghiên cứu sinh Tiến sĩ tại OUCRU, cho thấy hầu hết người dân đều biết về lợi ích của vắc-xin và thể hiện thái độ tích cực đối với việc tiêm phòng. Tuy nhiên, những thách thức mang tính hệ thống như thiếu phương tiện đi lại, thiếu giấy phép lái xe, đường đến các trung tâm tiêm chủng khó khăn, hoặc bố mẹ không thể nghỉ làm để đưa trẻ đi tiêm chủng, đã ngăn cản cộng đồng này tiếp cận với tiêm chủng.

    Những thách thức mang tính hệ thống như thiếu phương tiện đi lại, thiếu giấy phép lái xe, đường đến các trung tâm tiêm chủng khó khăn, hoặc bố mẹ không thể nghỉ làm để đưa trẻ đi tiêm chủng, đã ngăn cản cộng đồng này tiếp cận với tiêm chủng.

    Ngoài ra, nghiên cứu cho thấy đội ngũ y tế cấp cơ sở, đặc biệt là các cộng tác viên y tế thôn/ buôn đóng vai trò thiết yếu trong việc khuyến khích và thúc đẩy tỉ lệ tiêm chủng của cộng đồng. Tuy vậy, các cộng tác viên y tế thôn/buôn lại thường là những tình nguyện viên với mức hỗ trợ hàng tháng rất thấp.

    Họ ít có cơ hội được đào tạo về tiêm chủng, vắc-xin hoặc về các kỹ năng cần thiết để truyền thông với cộng đồng, dù công việc của cộng tác viên đòi hỏi kỹ năng này, đặc biệt là khi truyền thông với các thành viên cộng đồng thuộc nhóm dân tộc thiểu số.

    Đại dịch Covid-19 cũng khiến cho vấn đề này trầm trọng hơn. Theo WHO, chỉ riêng trong năm 2021, 25 triệu trẻ em trên toàn thế giới đã tiêm thiếu ít nhất một liều vắc xin phòng bệnh bạch hầu, uốn ván và ho gà (DTP).

    “Việc tiếp cận những trẻ em chưa được tiêm chủng và các gia đình này là mục tiêu của nhiều tổ chức trên toàn cầu. Truyền thông là đặc biệt cần thiết để đạt được độ bao phủ tiêm chủng ở những nhóm khó tiếp cận này.”

    Tiến sĩ Mary Chambers, Trưởng nhóm Kết nối khoa học với cộng đồng tại OUCRU, cho biết.

    Chương trình Nâng cao năng lực cho cán bộ tiêm chủng tuyến đầu

    Nhờ kết quả nghiên cứu, chúng tôi đã phối hợp với CDC Đắk Lắk xây dựng chương trình đào tạo nâng cao năng lực cho cộng tác viên y tế xã và nhân viên trạm y tế xã, đặc biệt tập trung hỗ trợ họ truyền thông về vắc xin và quy trình tiêm chủng.

    Kết quả đầu ra là một khóa tập huấn gồm 5 mô-đun, cùng với hướng dẫn tập huấn và thẻ ghi chú. Một khóa đào tạo giảng viên (TOT) cũng giúp cho cán bộ y tế cấp huyện và xã thực hiện tập huấn này với các cộng tác viên y tế tại thôn, buôn.

    Khóa học ‘Nâng cao năng lá»±c cho cán bá»™ vắc-xin tuyến đầu‘ và khóa học TOT đã được thí Ä‘iểm vá»›i các cá»™ng tác viên y tế từ 17 xã cá»§a huyện CưMgar và vá»›i 26 cán bá»™ chuyên trách tiêm chá»§ng và cán bá»™ y tế cấp huyện và cấp xã (2022-2023).

    Chương trình tập huấn có sự tham gia của cán bộ y tế tuyến đầu, thông qua việc xây dựng không gian học tập tích cực, đã tăng sự tự tin của các cộng tác viên y tế. Chương trình cũng đảm bảo tính bền vững bằng việc nâng cao năng lực cho giảng viên là các chuyên trách và cán bộ y tế.

    Video tóm tắt chương trình đào tạo và chia sẻ từ nhân viên y tế tuyến đầu

    Phản hồi từ buổi tập huấn thí điểm cho thấy tiềm năng của chương trình trong việc hỗ trợ việc tăng cường sự tự tin và năng lực cho đội ngũ nhân viên y tế và cộng tác viên y tế cấp cơ sở, phù hợp để triển khai tại địa phương.

    Sau đợt tập huấn, 20 xã tham gia tập huấn có tỷ lệ tiêm nhắc lại tăng rõ rệt (lên tới 42%) so với các xã không tham gia.

    “Sau khi tập huấn xong thì thấy mình tự tin hơn, điều mà trước đây mình chưa bao giờ nghĩ rằng mình sẽ làm một giảng viên, làm được điều đó chị cảm thấy rất vui!”

    Một Cán bộ chuyên trách tiêm chủng cấp xã, tỉnh Đắk Lắk chia sẻ.

    “Cách tập huấn mới này giúp cộng tác viên tự mình đưa ra nhiều hình thức để thực hiện nhiệm vụ tuyên truyền của mình.”

    Chia sẻ của một Trưởng Trạm Y tế xã, tỉnh Đắk Lắk.

    “Chúng tôi hy vọng rằng chương trình này sẽ được áp dụng rộng rãi để hỗ trợ cho các nhân viên y tế ở tuyến đầu trong việc vận động tiêm chủng ở các vùng sâu vùng xa trên khắp Việt Nam. Từ đó nâng cao sức khỏe chung cho mọi người, đặc biệt là những cộng đồng ở các khu vực còn nhiều khó khăn,” ThS. Nguyễn Bích Phương, Điều phối viên Cao cấp của dự án cho biết.

    “Tôi thá»±c sá»± hy vọng rằng chúng ta có thể nhìn nhận những Ä‘iểm mạnh và nhu cầu cá»§a những nhân viên y tế tuyến đầu này, và cách ta có thể há»— trợ họ để thá»±c hiện những nhiệm vụ rất quan trọng – đóng vai trò là những người kết nối giữa hệ thống y tế và cá»™ng đồng,” TS. Mary Chambers nhấn mạnh.

    Dự án này được hỗ trợ bởi sự tài trợ của Đại sứ quán Anh tại Việt Nam, Wellcome và Mạng lưới Đạo đức Sinh học Y tế Toàn cầu.

    Để tải tài liệu đào tạo cho nhân viên y tế, vui lòng truy cập.

  • OUCRU Project Raises Vaccination Uptake in Ethnic Minority Communities in Dak Lak, Viet Nam  

    OUCRU Project Raises Vaccination Uptake in Ethnic Minority Communities in Dak Lak, Viet Nam  

    OUCRU, in collaboration with Dak Lak’s Department of Health and Centre for Disease Control (CDC), developed a training programme to enhance the capacity of commune vaccine staff, with a particular focus on supporting their communication about the vaccines and vaccination process.

    Communes that participated in the training programme saw up to a 42% increase in booster vaccination uptake compared to the communes that did not participate.

    This training programme is part of a 9-year collaboration between OUCRU and Dak Lak’s Department of Health to conduct research on health issues such as zoonotic diseases, Covid-19 and vaccine uptake.  

    In response to isolated outbreaks and deaths from vaccine preventable diseases, including diptheria and tetanus, in 2016, OUCRU and the provincial CDC started a programme of work to conduct qualitative and quantitative research on vaccine uptake in marginalised groups, and evaluate community engagement interventions.   

    On May 18, 2023, OUCRU and Dak Lak CDC hosted an event to celebrate the progress made to improve the vaccination rates amongst the province’s most vulnerable communities. The new training modules were introduced, along with results from the pilot training in 17 communes of Cu Mgar district. 

    The event saw the participation of the National Institute of Hygiene and Epidemiology, Department of Foreign Affairs, Department of Planning and Investment, and district and commune healthcare workers.  

    “Before the training was implemented, 52 out of 184 communes in Dak Lak fell behind on vaccination. This is an area of concern for us. After the Covid-19 pandemic, the vaccination rate fell significantly. Capacity building for frontline health workers is now more important than ever.”   

    Dr Le Phuc, Vice Director of Dak Lak CDC, said during the meeting.

    Addressing Structural Challenges   

    Vaccine delivery and uptake in Vietnam are reportedly very high. However, sporadic outbreaks of vaccine-preventable diseases such as measles, diphtheria, and neonatal tetanus reveal that uptake is not uniform across the country. Outbreaks in rural areas have predominantly been amongst ethnic minority communities.   

    The first phase of our project looked at the challenges that community members face when getting vaccinations and healthcare workers face when working with community members.    

    Research carried out by Nguyen Thanh Ha, PhD student at OUCRU, found that most community members know about the benefits of vaccines and express positive attitudes toward vaccination. However, structural challenges such as lack of transportation, lack of driving license, difficult routes to vaccination centres, or difficulties taking work absences to take children to vaccination prevent them from getting vaccinated.  

    Structural challenges such as lack of transportation, lack of driving license, difficult routes to vaccination centres, or difficulties taking work absences to take children to vaccination prevent them from getting vaccinated.  

    Additionally, the research shows that local healthcare workers play an essential role in encouraging and maintaining the community’s vaccination behaviours. However, they are required to communicate about complex issues, often with community members of another ethnic group and language.

    When working with these hard-to-reach communities, the local healthcare workers often rely on village health collaborators, who are often low-paid volunteers with little training in vaccines or communication skills.   

    The Covid-19 pandemic only exacerbated the issue. According to WHO, 25 million children missed out on one or more doses of diphtheria, tetanus, and pertussis vaccine (DTP) in 2021 alone.   

    “Reaching the zero dose children and the families that they are a part of is now a global goal for many organisations. Communication is particularly needed to achieve vaccination coverage in hard-to-reach populations.”  

    Dr Mary Chambers, Head of Public and Community Engagement at OUCRU said.

    Training Programme for Commune Vaccine Staff   

    In response to these findings, we have collaborated with Dak Lak CDC to develop a training programme to enhance the capacity of commune health collaborators and commune health station staff, with a particular focus on supporting their communication about the vaccines and vaccination process.

    The outputs are a five-module training manual, supporting communication material such as flash cards. A training of trainer (TOT) course has also been developed to give district-level and village-level health staff who deliver this training to village health collaborators.     

    This course, ‘Capacity Building for Frontline Vaccination Staff’, and the TOT course have been piloted with 200 health collaborators from 17 communes of Cu Mgar district, Dak Lak province, and with 26 district and village-level health staff (2022-23).     

    The participatory training programme not only enhances self-confidence by creating an active learning space for commune vaccine staff but also ensures sustainability through capacity building for the trainers.   

    Recap of the training programme and sharings from frontline health workers

    Feedback from the pilot training shows that the programme is suitable for local health staff and helpful for the commune health collaborators to build their confidence and capacity.

    The 20 communes that participated in the training programme saw a significant increase in booster vaccination rate (up to 42%) compared to the communes that did not participate.   

    “I feel more confident now, after being the trainer for the first time in my life; I think I just made the impossible possible!”   

    A commune vaccine staff in Dak Lak province said after the training.

    “This new training method focuses on the commune staff; it has them actively learn how to do their communication tasks.”

    The Head of a Health Station in Dak Lak province expressed.    

    “It is our hope that this programme will be used widely throughout Vietnam to support health workers involved in vaccinations in rural areas, and thereby increase the well-being of the communities they serve, especially the disadvantaged and marginalised,” Nguyen Bich Phuong, Senior Engagement Coordinator for the project said.  

    “I truly hope that we can reflect on the strengths and the needs of these essential workers and how they can be supported to conduct these very important tasks of acting as the interface between the health system and the communities,” Dr Mary Chambers stressed.   

    This project has been supported by funding from The British Embassy in Vietnam, Wellcome and The Global Health Bioethics Network.  

    Download training materials for frontline health workers

  • [Infographic] Các yếu tố văn hóa xã há»™i tác động thế nào đến quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu lâm sàng?

    [Infographic] Các yếu tố văn hóa xã hội tác động thế nào đến quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu lâm sàng?

    Tuổi tác, trình độ đọc viết và tình trạng sức khỏe là những yếu tố ảnh hưởng đến mức độ bệnh nhân hiểu về thá»­ nghiệm lâm sàng mà họ tham gia. Trong má»™t nghiên cứu được công bố gần đây cá»§a OUCRU, các nhà nghiên cứu đã quan sát quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu trong hai nghiên cứu thá»­ nghiệm lâm sàng và ghi nhận nhiều cách cải thiện quá trình này để giúp người tham gia hiểu tốt hÆ¡n về nghiên cứu họ tham gia. 

    Theo hướng dẫn Thá»±c hành Lâm sàng Tốt (Good Clinical Practice), quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu (“informed consent”) là quy trình thiết yếu khi thá»±c hiện các nghiên cứu thá»­ nghiệm lâm sàng trên người. Bước này đảm bảo rằng những người tham gia nghiên cứu nhận thức được thông tin nghiên cứu, hiểu được mục đích nghiên cứu, rá»§i ro có thể gặp phải và lợi ích cá»§a họ trước khi đưa ra quyết định tham gia vào nghiên cứu thá»­ nghiệm lâm sàng.     

    Các nghiên cứu tại OUCRU luôn chấp hành các hướng dẫn trong nước và quốc tế về tiêu chuẩn đạo đức và thá»±c hành đối vá»›i nghiên cứu y sinh thá»±c hiện trên con người. Tuy nhiên, má»™t nghiên cứu khoa học xã há»™i má»›i cá»§a nghiên cứu viên Nguyá»…n Thị Hồng Yến và cá»™ng sá»± nhận thấy rằng người tham gia có nhận thức và mức độ hiểu khác nhau về thông tin nghiên cứu và thá»­ nghiệm lâm sàng mà họ tham gia.  

    Nghiên cứu

    Nghiên cứu được thá»±c hiện vá»›i người tham gia trong hai thá»­ nghiệm lâm sàng do OUCRU và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh Ä‘ang triển khai: thá»­ nghiệm lâm sàng ngoại trú vá»›i bệnh nhân mắc bệnh gan mãn tính và thá»­ nghiệm lâm sàng ná»™i trú vá»›i bệnh nhân bị lao màng não.   

    Cả hai thá»­ nghiệm lâm sàng đều không áp dụng các can thiệp có nguy cÆ¡ cao. Tuy nhiên, má»™t số người tham gia thá»­ nghiệm lâm sàng ná»™i trú có những biểu hiện khá nặng khi được mời tham gia vào nghiên cứu. Những người tham gia nghiên cứu  đã nhận được thuốc và kiểm tra sức khoẻ định kì theo phác đồ thá»­ nghiệm, cÅ©ng như được hoàn trả chi phí Ä‘i lại theo quy định.    

    Sau đây là những thông tin mà nghiên cứu đã tìm ra.  

    Các nhà nghiên cứu nhấn mạnh rằng “các nhóm thá»­ nghiệm lâm sàng và các tổ chức nghiên cứu cần nhìn thấy trách nhiệm cá»§a họ trong việc cải thiện quy trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu và bảo vệ người tham gia trong nghiên cứu. Cải thiện khả năng tiếp cận y tế cho bệnh nhân nghèo cÅ©ng sẽ giúp bệnh nhân có nhiều sá»± lá»±a chọn hÆ¡n trước khi đưa ra quyết định tham gia thá»­ nghiệm lâm sàng.”  

    Nghiên cứu này cÅ©ng chỉ ra nhiều cách cải thiện quy trình lấy chấp thuận để giúp bệnh nhân hiểu rõ hÆ¡n về nghiên cứu mà họ được mời tham gia.   

    Má»™t trong những phương pháp OUCRU đã thá»±c hiện là thiết kế lại các tờ thông tin về nghiên cứu, cụ thể là chúng tôi đã thêm vào hình ảnh minh hoạ và tăng cỡ chữ lá»›n hÆ¡n. Chúng tôi mời Ban cố vấn cá»™ng đồng đọc và so sánh vá»›i mẫu chấp thuận Ä‘ang được sá»­ dụng. Họ cho rằng thiết kế má»›i có thể cải thiện khả năng đọc hiểu và giúp người tham gia nhá»› được nhiều thông tin hÆ¡n về nghiên cứu.    

    Nhiều nghiên cứu tương tá»± cÅ©ng đề xuất cách cải thiện mức độ hiểu các thông tin về nghiên cứu cá»§a người tham gia trong quá trình lấy chấp thuận tham gia nghiên cứu, ví dụ như cung cấp thêm thông tin bằng văn bản, sá»­ dụng các công cụ Ä‘a phương tiện để giải thích về nghiên cứu, dùng phương pháp thảo luận và phản hồi, đều giúp cải thiện khả năng hiểu cá»§a người tham gia về các rá»§i ro và quy trình nghiên cứu. 

    Trích dẫn

    Nguyen, Y.H.T., Dang, T.T., Lam, N.B.H. et al. Fragmented understanding: exploring the practice and meaning of informed consent in clinical trials in Ho Chi Minh City, Vietnam. BMC Med Ethics 24, 3 (2023). https://doi.org/10.1186/s12910-023-00884-2 

  • [Infographic] How Socio-cultural Factors Impact the Consent Process in Clinical Trials   

    [Infographic] How Socio-cultural Factors Impact the Consent Process in Clinical Trials   

    Age, literacy level, and health status shape participants’ understanding of clinical trials. In a recently published study, OUCRU researchers observed the consent process in two trials and noted many ways that participants’ understanding of study information can be enhanced.   

    Informed consent is an essential process when doing clinical trials involving human subjects, according to Good Clinical Practice. This step ensures that trial participants are aware of the trial information, study purpose, potential risks, and benefits to their health before making an informed decision to participate. 

    Studies at OUCRU follow international and national guidelines on ethical standards and procedures for biomedical research involving human subjects—however, a new social science study by Nguyen Thi Hong Yen et al. found participants still had many different perceptions and misunderstandings of research and clinical trial information.  

    The study was embedded in two randomised clinical trials conducted by OUCRU and Hospital for Tropical Diseases (Ho Chi Minh City). One was an outpatient clinical trial involving patients with chronic liver conditions. The other was an in-patient clinical trial involving patients with TB meningitis.   

    Both clinical trials did not involve high-risk interventions. However, some participants enrolled in the in-patient clinical trial were quite ill. Participants in the trials received drugs and examinations per trial protocol, as well as had travel costs reimbursed.   

    The following infographic describes the findings.   

    The research team stressed that “clinical trial teams and research institutions need to recognize their responsibility to improve the process and protect participants in research. Improved access to quality healthcare for poor patients can also reduce their vulnerabilities when making the decision to join clinical trials.” 

    The findings also pointed out ways clinical trials can improve the informed consent process to enhance participants’ understanding.  

    The first step we took was redesigning trial documents with pictures and larger font sizes and testing the design with our community advisory board. The board members found the revised forms improved readability and enhanced their understanding of the information.   

    How OUCRU suggest that participants' experiences can be improved in clinical trials.
    We redesigned trial documents with pictures and larger font sizes and testing the design with our community advisory board.

    Similar studies also suggested other ways to improve participants’ understanding of the clinical trial. These methods include providing additional written information, using audiovisual and multimedia tools, extended discussions and test/feedback techniques, which improved the study participants’ comprehension and understanding of risks and procedures.  

    Citation  

    Nguyen, Y.H.T., Dang, T.T., Lam, N.B.H. et al. Fragmented understanding: exploring the practice and meaning of informed consent in clinical trials in Ho Chi Minh City, Vietnam. BMC Med Ethics 24, 3 (2023). https://doi.org/10.1186/s12910-023-00884-2