Author: Chi Ngo Huyen

  • Ngày Thế giá»›i Phòng chống Lao 2022: Cùng chung tay chấm dứt bệnh lao, cứu sống hàng triệu người.

    Ngày Thế giới Phòng chống Lao 2022: Cùng chung tay chấm dứt bệnh lao, cứu sống hàng triệu người.

    Ngày Thế giới Phòng chống Lao 24/3 được kỷ niệm mỗi năm để nâng cao nhận thức về căn bệnh nguy hiểm này.

     

    Chủ đề của Ngày Thế giới phòng chống Lao năm nay là “Cùng chung tay chấm dứt bệnh lao, cứu sống mạng người”, truyền tải nhu cầu cấp bách đầu tư nguồn lực để đẩy mạnh cuộc chiến chống bệnh lao và đạt được các cam kết chấm dứt bệnh lao do các nhà lãnh đạo toàn cầu đưa ra.

    Mặc dù có những tiến bá»™ đáng kể trong những năm gần đây, bệnh lao vẫn tiếp tục là má»™t trong những nguyên nhân gây tá»­ vong hàng đầu trên toàn thế giá»›i, cướp Ä‘i sinh mạng cá»§a 1,5 triệu người má»—i năm. Đại dịch COVID-19 đã đảo ngược nhiều năm tiến bá»™ toàn cầu trong cuá»™c chiến chống bệnh lao, và bệnh lao Ä‘a kháng thuốc – mối quan tâm lá»›n nhất trong việc kiểm soát tình trạng kháng kháng sinh trên toàn cầu – có thể gây tổn thất lá»›n tá»›i những kết quả đạt được trong vài thập ká»· qua.

    Bệnh lao có thể phòng ngừa và chữa khỏi được, với các phương pháp điều trị thích hợp. Nếu đủ nguồn lực, chúng ta có thể ngăn chặn sự lây lan của nó. Tuy nhiên, để đạt được các mục tiêu đầy tham vọng là giảm 95% tỉ lệ tử vong và giảm 90% tỷ lệ mắc bệnh do Tổ chức Y tế Thế giới đặt ra trong chiến lược toàn cầu nhằm chấm dứt bệnh lao, cần phải đầu tư nhiều hơn vào các hoạt động liên quan đến bệnh lao.

    ĐÓNG GÓP CỦA OUCRU

    Với tư cách là đối tác của UNITE4TB, chúng tôi tự hào đóng một vai trò chủ chốt trong cuộc chiến chấm dứt bệnh lao. Hiệp hội này đang làm việc để cung cấp các thử nghiệm lâm sàng giai đoạn 2 mới nhằm thúc đẩy quá trình phát triển các phác đồ và thuốc chống lao mới. Đạt được mục tiêu này sẽ tạo điều kiện thuận lợi để đáp ứng một trong những nhu cầu chính chưa được đáp ứng trong nghiên cứu lao: các phác đồ thuốc hiệu quả tốt với thời gian ngắn hơn có thể được triển khai để giải quyết bệnh lao trên nhiều bệnh kháng thuốc và bệnh đi kèm.

    Điều tra viên chính của OUCRU cho dự án này là Giáo sư Guy Thwaites.

    Ná»– Lá»°C CHUNG

    Bạn có thể làm gì để giúp đỡ? Nâng cao nhận thức về bệnh lao, khuyến khích đại diện chính phủ hành động, khuyến khích bạn bè và gia đình đi xét nghiệm. Cùng nhau, chúng ta có thể đẩy nhanh các nỗ lực nhằm chấm dứt đại dịch lao trên toàn cầu.

    Giới thiệu về UNITE4TB

    UNITE4TB là chương trình hợp tác công-tư với đại diện của các tổ chức học thuật, doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), các tổ chức công và các công ty dược phẩm. Dự án kéo dài 7 năm, trị giá 185 triệu Euro nhằm đẩy nhanh và cải thiện việc đánh giá lâm sàng kết hợp các loại thuốc hiện có và thuốc mới, với mục tiêu phát triển các phác đồ điều trị Lao mới và có hoạt tính cao đối với bệnh Lao kháng thuốc và nhạy cảm. Để biết thêm thông tin, hãy truy cập trang web của hiệp hội: union4TB.org

    Dự án UNITE4TB đã nhận được tài trợ từ Cam kết chung của Sáng kiến ​​Thuốc cải tiến 2 (JU) theo thỏa thuận tài trợ số 101007873. JU nhận được hỗ trợ từ chương trình nghiên cứu và đổi mới của Liên minh Châu Âu 2020 và EFPIA, Deutsches Zentrum für Infektionsforschung e. V. (DZIF), và Ludwig-Maximilians-Universität München (LMU). EFPIA / AP đóng góp 50% kinh phí, đóng góp của DZIF và Bệnh viện Đại học LMU Munich đã được Bộ Giáo dục và Nghiên cứu Liên bang Đức cấp. Để biết thêm thông tin: imi.europa.eu

    Bài này phản ánh quan điểm của tác giả. Cả IMI và Liên minh Châu Âu, EFPIA hoặc bất kỳ Đối tác liên kết nào đều không chịu trách nhiệm về bất kỳ việc sử dụng nào đến từ thông tin có trong tài liệu này.

  • World TB Day 2022: Invest to End TB. Save Lives

    World TB Day 2022: Invest to End TB. Save Lives

    Each year on 24 March, World TB Day is commemorated to raise awareness of this devastating and deadly disease.

    The theme for this year’s World TB Day is “Invest to End TB. Save Lives”, conveying the urgent need to invest resources to ramp up the fight against TB and achieve the commitments to end TB made by global leaders.

    Despite significant progress in recent years, TB continues to be among the leading causes of death worldwide, claiming the lives of 1.5 million people per year. The COVID-19 pandemic has reversed years of global progress in tackling TB, and multidrug-resistant TB – the largest concern in the control of antimicrobial resistance globally – could put at risk the gains made over the last few decades.

    TB is preventable and curable, with the right treatments and sufficient resources, it is possible to stop its spread. However, to reach the ambitious targets of 95% death reduction and 90% incidence decline set by the World Health Organization in its global strategy to end TB[1], more investment in TB-related activities is urgently needed.

    OUCRU’S CONTRIBUTION

    As a partner of UNITE4TB, we are proud to be playing our part in the fight to end TB. The Consortium is working to deliver novel phase 2 clinical trials that will accelerate the development of new anti-TB drugs and regimens. Achieving this goal will facilitate fulfillment of one of the main unmet needs in the TB field: well-tolerated drug regimens of shorter duration that can be deployed to tackle TB across various drug-resistant patterns and comorbidities.

    OUCRU’s Principal Investigator for this project is Professor Guy Thwaites.

    JOINT EFFORT

    What can you do to help? Raise awareness of TB, stimulate government representatives to act, encourage friends and families to get tested. Together we can accelerate efforts to end the global TB epidemic.

    About UNITE4TB

    UNITE4TB is a public-private partnership with representation from academic institutions, small- and medium-sized enterprises (SMEs), public organizations, and pharmaceutical companies. The 7-year, €185 million project aims to accelerate and improve the clinical evaluation of combinations of existing and novel drugs, with the goal of developing new and highly active Tuberculosis (TB) treatment regimens for drug-resistant and -sensitive TB. For more information, visit the consortium website: unite4TB.org

    The UNITE4TB project has received funding from the Innovative Medicines Initiative 2 Joint Undertaking (JU) under grant agreement No 101007873. The JU receives support from the European Union’s Horizon 2020 research and innovation programme and EFPIA, Deutsches Zentrum für Infektionsforschung e. V. (DZIF), and Ludwig-Maximilians-Universität München (LMU). EFPIA/AP contribute to 50% of funding, whereas the contribution of DZIF and the LMU University Hospital Munich has been granted by the German Federal Ministry of Education and Research. For further information: imi.europa.eu

    This communication reflects the author’s view. Neither IMI nor the European Union, EFPIA, or any Associated Partners are responsible for any use that may be made of the information contained herein.

    [1] Implementing the end TB strategy: the essentials. Geneva: World Health Organization, 2015 https://apps.who.int/iris/rest/bitstreams/916192/retrieve

  • OUCRU và Dragon Capital Group hợp tác tổ chức Chương trình Phát triển Hồi sức Tích cá»±c cho Bệnh Truyền nhiá»…m Đe dọa Tính mạng ở Việt Nam

    OUCRU và Dragon Capital Group hợp tác tổ chức Chương trình Phát triển Hồi sức Tích cực cho Bệnh Truyền nhiễm Đe dọa Tính mạng ở Việt Nam

    Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) và Dragon Capital Group công bố chương trình hợp tác kéo dài hai năm nhằm hỗ trợ phát triển hồi sức tích cực chất lượng cao cho những người mắc bệnh truyền nhiễm đe dọa tính mạng tại Việt Nam.

    Đại dịch toàn cầu COVID-19 đã cho thấy nhu cầu cấp thiết trong việc nâng cao năng lực và chất lượng hồi sức tích cực cho các bệnh truyền nhiễm. Nhu cầu này đặc biệt nghiêm trọng ở các quốc gia có nguồn lực thấp như Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh các Khoa Hồi sức Tích cực (HSTC) thiếu nhân lực và thiết bị, thiếu giường bệnh, và số lượng bệnh nhân vượt quá khả năng chăm sóc của hệ thống y tế. Để chuẩn bị cho các đại dịch trong tương lai, chúng ta cần một giải pháp mang tính tích hợp và hợp tác, tập trung vào việc giáo dục, phát triển mạng lưới chuyên gia và nâng cao kinh nghiệm lâm sàng cho đội ngũ Y Bác sĩ địa phương.

    Chương trình Phát triển Hồi sức Tích cực của OUCRU and Dragon Capital Group sẽ diễn ra từ năm 2022 đến năm 2024 và có ba mục tiêu chính:

    1. Khuyến khích và hỗ trợ các đơn vị hồi sức tích cực ở Việt Nam trong việc đổi mới và cải thiện các dịch vụ chăm sóc hiện có thông qua giáo dục chất lượng cao;
    2. Tăng cường mạng lưới hồi sức tích cực tại Việt Nam và các liên kết quốc tế;
    3. Hỗ trợ thành viên của các đơn vị hồi sức tích cực trên khắp Việt Nam đến thăm các trung tâm Y tế hàng đầu tại Vương quốc Anh.

    Chương trình sẽ bao gồm một khóa học thường niên về các kỹ thuật hồi sức tích cực tiên tiến cũng như chăm sóc lâm sàng và điều dưỡng chất lượng cao ở những cơ sở hạn chế về nguồn lực. Chương trình cũng sẽ hỗ trợ cho Hiệp hội Hồi sức Tích cực Việt Nam” và đàm phán để thiết lập quan hệ hợp tác chính thức với các hiệp hội HTSC quốc tế, đặc biệt ở Vương quốc Anh, Singapore, Úc/New Zealand và Châu Âu. Bên cạnh đó, Chương trình sẽ thúc đẩy việc trở thành thành viên và tham gia các hoạt động lâm sàng với Khoa HSTC của Bệnh viện St Thomas ở trung tâm Luân Đôn.

    Cải thiện chất lượng hồi sức tích cực là mối quan tâm lâu dài của OUCRU. OUCRU đã hợp tác nhiều năm với Khoa HSTC của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương tại Hà Nội để thực hiện các nghiên cứu làm giảm tử vong do các bệnh truyền nhiễm đe dọa tính mạng thường gặp (uốn ván, sốt xuất huyết, viêm màng não và COVID-19) gây ra.

    Giáo sư Guy Thwaites – Giám đốc OUCRU và Giáo sư về Bệnh truyền nhiễm tại Đại học Oxford – cho biết: “COVID-19 đã cho thấy nhiều quốc gia thu nhập thấp và trung bình rất dễ bị tổn thương trước các bệnh truyền nhiễm, đặc biệt các bệnh đe dọa tính mạng. Hồi sức tích cực tốt có thể cứu sống bệnh nhân, nhưng việc đạt được các kỹ năng và chuyên môn cần thiết là rất khó và thường chỉ giới hạn ở một số bệnh viện chuyên khoa. Chương trình Phát triển Hồi sức Tích cực rất ý nghĩa và quan trọng vì sẽ giúp cải thiện việc cung cấp và chất lượng hồi sức tích cực tại Việt Nam. Dragon Capital Group và OUCRU đều có nhiều năm đóng góp vào sự phát triển của Việt Nam ở những lĩnh vực riêng, và chúng tôi rất vui và biết ơn khi có cơ hội hợp tác trong dự án này”.

    Phó Giáo sư Louise Thwaites – Nghiên cứu viên Lâm sàng Cấp cao tại OUCRU và Phó Giáo sư tại Đại học Oxford – chia sẻ: “Trong nhiều năm qua, OUCRU đã hỗ trợ cho việc đào tạo nhân viên HSTC tại Việt Nam. Chương trình Phát triển Hồi sức Tích cực là cơ hội thú vị để mở rộng quy mô cho những hoạt động đào tạo này, tiếp cận nhiều bác sĩ và điều dưỡng hơn, đồng thời hỗ trợ các hiệp hội và các chuyên gia Việt Nam – những người đã cống hiến không ngừng nghỉ trong đại dịch COVID-19. Không chỉ dừng lại ở việc nâng cao khả năng ứng phó với đại dịch, Chương trình sẽ còn tạo ra một di sản lâu dài cho ngành HSTC tại Việt Nam”.

    Bác sĩ Lâm Minh Yến – Bác sĩ Nghiên cứu Cấp cao tại OUCRU và nguyên Phó Giám đốc Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh – nhấn mạnh: “Chương trình sẽ mang đến nhiều cơ hội để Y Bác sĩ Việt Nam nâng cao trình độ chuyên môn thông qua các hội thảo, tập huấn và lớp học đặc biệt với các chuyên gia HSTC trong nước và quốc tế về các chủ đề khác nhau bao gồm kinh nghiệm chăm sóc bệnh nhân, kịch bản lâm sàng cho các ca bệnh nặng ở những nơi có thu nhập cao, thấp và trung bình, cũng như cách thức và ích lợi của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác khám chữa bệnh. Bệnh nhân sẽ nhận được nhiều lợi ích thông qua việc cải thiện chất lượng hồi sức tích cực và thiết lập các mạng lưới HSTC đủ tiêu chuẩn trên khắp Việt Nam”.

    OÌ‚ng Dominic Scriven – Chủ tiÌ£ch Dragon Capital Việt Nam – chia sẻ: “LaÌ€n sóng diÌ£ch COVID- 19 lần thứ tuÌ› Ä‘ã thể hiện rất rõ tầm quan troÌ£ng của coÌ‚ng tác hồi sức tích cực vaÌ€ nhu cầu bức thiết trong việc Ä‘aÌ€o taÌ£o phát triển năng lực hồi sức cấp cứu cho cán bộ y tế. Dragon Capital rất haÌ‚n haÌ£nh Ä‘ược coÌ› hội hợp tác cuÌ€ng với một Ä‘oÌ›n viÌ£ nghieÌ‚n cứu laÌ‚m saÌ€ng vaÌ€ sức khỏe cộng đồng haÌ€ng đầu nhuÌ› OUCRU. Chúng toÌ‚i tin rằng ChuÌ›oÌ›ng triÌ€nh Phát triển Hồi sức Tích cực sẽ mở rộng việc Ä‘aÌ€o taÌ£o chuyeÌ‚n moÌ‚n chất lượng cao cho các cho các cán bộ y tế chuyeÌ‚n ngaÌ€nh về hồi sức cấp cứu. ChuÌ›oÌ›ng triÌ€nh naÌ€y sẽ góp phần giúp Việt Nam phát triển một hệ thống chăm sóc sức khỏe vững maÌ£nh hoÌ›n, từ Ä‘ó có thể cung cấp cho người daÌ‚n các diÌ£ch vuÌ£ chăm sóc, Ä‘iều triÌ£ bệnh nhaÌ‚n một cách an toaÌ€n vaÌ€ hiệu quả trong thời kyÌ€ Ä‘aÌ£i diÌ£ch hiện nay cũng nhuÌ› trong các đợt diÌ£ch bệnh truyền nhiễm khoÌ‚ng thể tránh khỏi trong tuÌ›oÌ›ng lai”.


    Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ với Nhóm Truyền thông của OUCRU theo địa chỉ communications@oucru.org.

  • OUCRU and Dragon Capital Group Announce Partnership on Intensive Care Development Programme for Life-Threatening Infectious Diseases in Vietnam

    OUCRU and Dragon Capital Group Announce Partnership on Intensive Care Development Programme for Life-Threatening Infectious Diseases in Vietnam

    Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU), a leading clinical and public health research unit, and Dragon Capital Group, an established financial institution focused on Vietnam and other Southeast Asian emerging markets, today announced a two-year partnership to support the development of high-quality intensive care for those with life-threatening infectious diseases in Vietnam.

    The emergence of COVID-19 as a global pandemic has highlighted the imperative need to improve the capacity and quality of intensive care for infectious diseases. The need is particularly acute in less well-resourced countries such as Vietnam, where there is a lack of Intensive Care Unit (ICU) beds, equipment and personnel, and the numbers of patients have exceeded the healthcare system’s capacity to care for them. To prepare for future pandemics, an integrated and collaborative solution focused on education, professional networks and clinical experience for local healthcare professionals is essential.

    The Intensive Care Development Programme, which will take place during 2022 – 2024, has three objectives:

    1. Encourage and support intensive care unit teams in Vietnam to innovate and improve current care through high-quality education

    2. Strengthen intensive care networks within Vietnam and their international links

    3. Support members of intensive care units across Vietnam to visit centres of excellence in the United Kingdom (UK).

    The Programme will include an annual intensive-care medicine course on cutting-edge ICU medicine and good clinical and nursing care in resource-limited settings. It will also support the existing “Vietnam Intensive Care Society” and will negotiate for establishing formal links

    with other international ICU societies, especially in UK, Singapore, Australia/New Zealand and Europe. In addition, it will promote joint membership and clinical activities with St Thomas’ Hospital ICU in central London.

    OUCRU has a long-standing interest in improving intensive care and have worked closely for many years with the ICU teams in the Hospital for Tropical Diseases in Ho Chi Minh City (HTD) and the National Hospital for Tropical Diseases in Hanoi, conducting research that reduces deaths from common life-threatening infectious diseases (tetanus, dengue, meningitis, and now COVID-19).

    Professor Guy Thwaites, Director of OUCRU and Professor of Infectious Diseases at the University of Oxford, said: “Sadly, COVID-19 has shown how vulnerable many low and middle income countries are to infectious diseases, particularly when they cause life-threatening illness. Lives can be saved by good intensive care, but the skills and expertise required to deliver this care are hard to acquire and are generally limited to a few specialist hospitals. This new Programme is exciting and important because it will help improve the provision and quality of intensive care in Vietnam. Dragon Capital Group and OUCRU have, in their respective fields, long supported the development of Vietnam and we are delighted and grateful for this new partnership”.

    Associate Professor Louise Thwaites, Senior Clinical Research Fellow at OUCRU and Associate Professor at the University of Oxford, said: “OUCRU has been supporting training of ICU staff in Vietnam for many years and this Programme is an exciting opportunity to scale up this work, reaching many more doctors and nurses, and support the Vietnamese societies and experts who have been working so hard during the pandemic. The Programme will provide a lasting legacy for Vietnamese ICU care, far beyond the current pandemic”.

    Dr Lam Minh Yen, Senior Study Doctor at OUCRU and former Vice-Director of HTD, highlighted: “The Programme will offer huge opportunities for Vietnamese doctors to get professional specialty through medical workshops, training, and special classes with local and international ICU experts on various topics including patient care experiences, clinical scenarios of severe cases in high- and low-middle-income settings as well as how to apply IT in clinical work and its benefits. With the initiative, patients will receive many benefits through the improvement of intensive care and the establishment of qualified ICU networks throughout Vietnam”.

    Dominic Scriven, Chairman of Dragon Capital Vietnam, commented: “The fourth COVID-19 wave has highlighted the importance of ICUs and a significant need for critical care capacity- building among health care professionals in Vietnam. Dragon Capital is delighted to have the opportunity to partner with a leading clinical and public health research unit like OUCRU. We believe that the Intensive Care Development Program will extend high-quality training and expertise to health care professionals. This will help Vietnam to create a stronger health-care system that can provide people with safe and effective patient care during the current pandemic and inevitable future ones”.


    For further information, please contact the Communications team at Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU) at communications@oucru.org.

  • Nghiên cứu tái định vị thuốc cho thấy Tamoxifen không có ích trong việc Ä‘iều trị viêm màng não gây tá»­ vong do nấm

    Nghiên cứu tái định vị thuốc cho thấy Tamoxifen không có ích trong việc điều trị viêm màng não gây tử vong do nấm

    Nghiên cứu tái định vị thuốc cho một dạng viêm màng não gây tử vong do nấm cho thấy Tamoxifen không có ích trong việc đẩy nhanh quá trình loại bỏ nhiễm nấm.

    Kết quả của thử nghiệm lâm sàng được công bố trên eLife gần đây đã dập tắt hy vọng rằng Tamoxifen có thể tăng khả năng sống sót cho bệnh nhân mắc một dạng viêm màng não gây tử vong do nấm.

    Nghiên cứu cho thấy việc thêm Tamoxifen vào phác đồ điều trị kháng nấm tiêu chuẩn không giúp đẩy nhanh quá trình loại bỏ nhiễm nấm khỏi dịch tủy sống của những người mắc viêm màng não. Có bằng chứng cho thấy nhiều bệnh nhân gặp rối loạn dẫn truyền trong tim khi dùng Tamoxifen, mặc dù cả hai nhóm nghiên cứu đều không có sự khác biệt về tỷ lệ tác dụng phụ nghiêm trọng.

    Viêm màng não do Cryptococcus là nguyên nhân gây tử vong hàng đầu ở những người nhiễm HIV, nhưng cũng ảnh hưởng đến những người không nhiễm HIV, dù họ có suy giảm miễn dịch hay không. Hầu hết các trường hợp nhiễm đều do một loại nấm có tên Cryptococcus neoformans (C. neoformans) và xảy ra ở những khu vực nhiệt đới, có thu nhập thấp. Phác đồ điều trị tiêu chuẩn vàng là kết hợp ba loại thuốc: ban đầu là Flucytosine và Amphotericin B, sau đó là Fluconazole. Tuy nhiên, ngay cả khi dùng phác đồ này, một phần ba bệnh nhân vẫn tử vong trong vòng 10 tuần sau chẩn đoán. Bên cạnh đó, Flucytosine gặp hạn chế lớn về tính sẵn có và chi phí, nghĩa là thuốc này hiếm khi được sử dụng ở những nơi có gánh nặng bệnh tật cao nhất.

    “Tamoxifen thể hiện hoạt tính kháng nấm chống lại các loại nấm men khác nhau trong phòng thí nghiệm; chúng tôi cũng đã cho thấy rằng thuốc có thể hoạt động hiệp đồng với Amphotericin để kháng 2/3 số phân lập lâm sàng của chủng Cryptococcus trong kho lưu trữ của chúng tôi. Chúng ta hiểu rõ về Tamoxifen, thuốc không có bằng sáng chế, giá thì rẻ và phổ biến rộng rãi. Do đó, nó là ứng cử viên đầy hứa hẹn cho việc điều trị viêm màng não do Cryptococcus”, Bác sĩ Nguyễn Thị Thủy Ngân, đồng Tác giả thứ nhất và Bác sĩ lâm sàng tại Khoa Bệnh Nhiệt đới, Bệnh viện Chợ Rẫy và Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU), Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam, cho biết.

    “Chúng tôi đã thiết kế má»™t thá»­ nghiệm ngẫu nhiên để xác định xem việc sá»­ dụng kết hợp các loại thuốc này có thể cải thiện tốc độ khỏi nhiá»…m nấm Cryptococcus hay không – ở cả bệnh nhân viêm màng não có HIV và bệnh nhân viêm màng não không có HIV”, Tiến sÄ© Lê Thanh Hoàng Nhật, đồng Tác giả thứ nhất và Chuyên gia thống kê sinh học tại OUCRU, cho biết thêm.

    Thá»­ nghiệm có sá»± tham gia cá»§a 50 bệnh nhân – 40 người nhiá»…m HIV và 10 người không nhiá»…m. Trong số các bệnh nhân, 24 bệnh nhân được chỉ định phác đồ Ä‘iều trị chống nấm tiêu chuẩn, gồm Amphotericin B và Fluconazole, cá»™ng thêm Tamoxifen, và 26 người chỉ được chỉ định phác đồ Ä‘iều trị chống nấm tiêu chuẩn. Nhóm nghiên cứu đã Ä‘o Hoạt động Diệt nấm Ban đầu (Early Fungicidal Activity – EFA) cá»§a cả hai nhóm – tức là Ä‘o xem lượng C. neoformans trong dịch tá»§y sống cá»§a bệnh nhân giảm nhanh như thế nào trong hai tuần sau Ä‘iều trị.

    Dựa trên các thí nghiệm trước đó của mình, nhóm đã hy vọng những bệnh nhân đã nhận Tamoxifen trong phác đồ điều trị chống nấm sẽ có EFA tốt hơn. Tuy nhiên, họ không phát hiện thấy sự khác biệt nào về EFA ở hai nhóm.

    Điểm khác biệt duy nhất giữa hai nhóm điều trị là nhóm dùng Tamoxifen có tình trạng tăng độc tính trong tim. Các nghiên cứu trong phòng thí nghiệm đã chỉ ra rằng cần sử dụng liều Tamoxifen cao gấp 5–10 lần so với liều được sử dụng thường xuyên trong điều trị ung thư vú để có tác dụng kháng nấm. Nhưng liều lượng Tamoxifen cao có thể gây hội chứng QT kéo dài cho tim – hội chứng QT kéo dài là một bất thường có thể gây ngừng tim. Trong nhóm dùng Tamoxifen của nghiên cứu này, có một trường hợp đột tử, mặc dù tình trạng tử vong diễn ra sau khoảng thời gian dùng Tamoxifen và không liên quan đến nhịp tim bất thường.

    Giáo sư Jeremy Day, Tác giả cấp cao và Trưởng nhóm Nhóm Nghiên cứu Nhiễm trùng Thần kinh Trung ương và HIV của OUCRU, và Giáo sư về Bệnh truyền nhiễm tại Trung tâm Y học Nhiệt đới và Sức khỏe Toàn cầu, Đại học Oxford, Vương quốc Anh, kết luận: “Mặc dù có tác dụng chống Cryptococcus và có khả năng phối hợp với các thuốc khác, Tamoxifen không làm tăng tốc độ loại nấm men khỏi dịch tủy sống ở những người viêm màng não và khả năng cao là không mang lại lợi ích lâm sàng”.

    “Kết quả của chúng tôi cho thấy tầm quan trọng của các thử nghiệm quy mô nhỏ như thế này trong việc đánh giá nhanh các loại thuốc có thể tái định vị/tái sử dụng và giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho những nghiên cứu lâm sàng lớn hơn mà có khả năng không thành công. Tuy nhiên, điều này có nghĩa là chúng ta vẫn cần nhanh chóng phát triển các loại thuốc đặc trị Cryptococcus mới, và cũng cần đảm bảo rằng người bệnh có thể tiếp cận các phương pháp điều trị hiện có với giá phải chăng”.


    Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ: Communications@oucru.org

  • Tamoxifen repurposing study shows no benefit in treating deadly fungal meningitis

    Tamoxifen repurposing study shows no benefit in treating deadly fungal meningitis

    A drug repurposing study of tamoxifen for a deadly form of fungal meningitis suggests it has no benefits in clearing the infection more quickly.

    Hopes that tamoxifen could improve survival for a deadly form of fungal meningitis have been dashed by clinical trial results published in eLife.

    The study finds that adding tamoxifen to standard antifungal treatment was no better at speeding up the clearance of fungal infection from the spinal fluid of people with meningitis. More patients who received tamoxifen had evidence of conduction disturbances in their hearts, although there was no difference in the rates of severe side effects between study groups. 

    Cryptococcal meningitis is a leading cause of death in people with HIV, but also affects those without HIV, regardless of whether they are immunocompromised. Most infections are caused by a fungus called Cryptococcus neoformans (C. neoformans) and occur in low-income tropical settings. The gold-standard treatment is a combination of three drugs: flucytosine and amphotericin B initially, followed by fluconazole. Yet, even on this gold-standard therapy, a third of patients die within 10 weeks of being diagnosed. Moreover, the drug flucytosine is severely restricted by availability and cost, meaning it is rarely used where the disease burden is highest.

    “Tamoxifen has shown antifungal activity against various yeasts in the lab; we subsequently showed that it acts synergistically with amphotericin against two-thirds of clinical Cryptococcus isolates from our archive. As a well-understood, off-patent, cheap and widely available medicine, it was a promising candidate for treating cryptococcal meningitis,” explains co-first author Nguyen Thi Thuy Ngan, Clinician at the Department of Tropical Medicine, Cho Ray Hospital, and the Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU), Ho Chi Minh City, Vietnam. 

    “We designed a randomised trial to determine whether using these drugs in combination could improve the speed of clearance of Cryptococcus from patients with meningitis with and without HIV,” adds co-first author Nhat Thanh Hoang Le, Biostatistician at OUCRU.

    The trial involved 50 patients – 40 had HIV and 10 did not. Of the patients, 24 were assigned to receive a standard anti-fungal treatment of amphotericin B and fluconazole plus tamoxifen, and 26 received the standard anti-fungal treatment only. The team measured the Early Fungicidal Activity (EFA) for both groups – that is, how quickly there was a decline in the amount of C. neoformans in a patient’s spinal fluid in the two weeks following treatment.

    Based on their prior experiments, the team had hoped to see better EFA for patients who had tamoxifen added to the antifungal treatment. However, there was no detectable difference in EFA.

    The only difference seen between the two treatment groups was the increased heart toxicity in the tamoxifen group. Studies in the lab had shown that a tamoxifen dose 5–10 times higher than that used routinely in breast cancer would be needed to have an antifungal effect. But a high dose of tamoxifen is known to cause an effect on the heart called QT prolongation – an  abnormality that can cause cardiac arrest. There was one sudden death in the tamoxifen group in this study, although this occurred after the period of tamoxifen administration and it was not associated with an abnormal heart rhythm.

    “Despite its apparent anti-cryptococcal effect and synergy with other drugs, tamoxifen does not increase the rate of clearance of yeast from spinal fluid in people with meningitis and is unlikely to result in clinical benefit,” concludes senior author Jeremy Day, Head of the CNS and HIV Infections Research Group at OUCRU, and Professor of Infectious Diseases at the Centre for Tropical Medicine and Global Health, Oxford University, UK. 

    “Our results show the importance of small-scale trials such as this for rapidly evaluating repurposable drugs and preventing the time and cost of a larger clinical study that is likely to fail. However, sadly this does mean that we urgently still need new, specific anti-cryptococcal drugs to be developed, and we also need to ensure that existing, available treatments are made accessible and affordable.”

    _________________________________

    For more information, contact: Communications@oucru.org

  • Nghiên cứu toàn cầu về lao lá»›n nhất từ trước đến nay xác định nguyên nhân di truyền cá»§a tính kháng thuốc

    Nghiên cứu toàn cầu về lao lớn nhất từ trước đến nay xác định nguyên nhân di truyền của tính kháng thuốc

    Các nhà nghiên cứu tại Đại học Oxford đã sử dụng các kỹ thuật giải trình tự gen tiên tiến để xác định hầu hết các biến thể gen gây ra tình trạng kháng lại 13 loại thuốc phổ biến nhất trong điều trị bệnh lao.

    Dự án  “Dự báo Tính kháng thuốc Toàn diện cho Hiệp hội Bệnh Lao Quốc tế (CRyPTIC)” đã thu thập bộ dữ liệu các mẫu vi khuẩn lao trong nghiên cứu lâm sàng lớn nhất từ trước đến nay từ khắp nơi trên thế giới, gồm 15.211 mẫu từ 27 quốc gia trên năm châu lục.

    Bằng cách sử dụng hai tiến bộ quan trọng là xét nghiệm định lượng mới về tính kháng thuốc và cách tiếp cận mới giúp xác định tất cả thay đổi về di truyền trong mẫu vi khuẩn lao kháng thuốc, các nhà nghiên cứu đã tạo ra bộ dữ liệu đặc biệt để định lượng cách những thay đổi trong mã gen của vi khuẩn lao làm giảm khả năng tiêu diệt các vi khuẩn gây bệnh lao của các loại thuốc khác nhau. Cùng với các công trình đang được hiện trong lĩnh vực, những đổi mới này hứa hẹn sẽ mang lại cải thiện cho cách điều trị bệnh lao trong tương lai.

    Bệnh lao gây tử vong ở người cao hơn bất kỳ loại vi khuẩn, vi-rút hoặc ký sinh trùng nào khác gây ra, ngoại trừ SARS-CoV-2. Mặc dù bệnh có thể điều trị được, tính kháng thuốc đã trở thành một vấn đề lớn trong suốt ba thập kỷ qua. Việc xác định các đột biến trong bộ gen của vi khuẩn lao để xác định loại thuốc nào sẽ mang lại cơ hội chữa khỏi tốt nhất cho bệnh nhân là cách thực tế nhất để kiểm tra tính kháng thuốc cho bệnh nhân.

    Tiến sĩ Timothy Walker, là Wellcome Fellow tại Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) đồng thời cũng là  Phó Giáo sư tại Đại học Oxford, cho biết: “Dự án này là công trình quốc tế lớn được thực hiện trong hơn 5 năm qua và sẽ mang lại lợi ích cho bệnh nhân và cộng đồng khi dữ liệu được sử dụng để chẩn đoán và quản lý lao kháng thuốc một cách hiệu quả và làm giảm sự lây truyền”.

    Trong chín bản thảo mới chưa được bình duyệt, với mỗi bản ghi lại một khía cạnh tiến bộ khác nhau mà dự án CRyPTIC đã mang lại cho lĩnh vực, các nhà nghiên cứu trình bày về:

    • Cách diá»…n giải các xét nghiệm kháng thuốc má»›i [1] và cách má»™t dá»± án khoa học cá»™ng đồng vá»›i số mẫu lá»›n đã giúp giải quyết vấn đề này [2]
    • Cách tiếp cận má»›i về phát hiện và mô tả những thay đổi di truyền trong toàn bá»™ trình tá»± gen cá»§a lao đã cải thiện cách thức phát hiện những thay đổi di truyền dẫn đến tình trạng kháng thuốc như thế nào [3]
    • Cách sá»­ dụng những dữ liệu này để quét trình tá»± bá»™ gen lao để tìm những thay đổi là nguyên nhân gây ra kháng thuốc mà trước đây chưa được biết đến [4]
    • Cách các đột biến đơn và tổ hợp các đột biến có thể liên quan không chỉ đến việc xác định tính ‘kháng thuốc’ hoặc tính ‘nhạy thuốc’, mà còn đến những thay đổi nhỏ trong cách kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn lao, từ đó làm giảm hiệu quả Ä‘iều trị [5], đặc biệt  là hai loại kháng sinh má»›i Ä‘ang được sá»­ dụng để Ä‘iều trị bệnh lao [6]
    • Cách các thuật toán trí tuệ nhân tạo có thể dá»± Ä‘oán tính kháng thuốc từ các dấu hiệu trong bá»™ gen vi khuẩn lao [7]
    • Cách những dữ liệu này [8] đã góp phần vào danh sách đột biến kháng thuốc trên bá»™ gen vi khuẩn lao đầu tiên được Tổ chức Y tế Thế giá»›i công nhận cho sá»­ dụng trên toàn cầu [9].

    Kết quả của nghiên cứu nhằm mục đích cải thiện việc kiểm soát bệnh lao và tạo điều kiện cho việc thực hiện chiến lược chấm dứt bệnh lao của Tổ chức Y tế Thế giới, thông qua điều trị lao kháng thuốc tốt hơn, nhanh hơn và có mục tiêu hơn bằng dự báo tính kháng thuốc bằng kiểu di truyền, mở đường cho việc xét nghiệm tính nhạy  thuốc trên toàn cầu.

    “Những công trình hợp tác quốc tế đang được thực hiện như nghiên cứu này là rất cần thiết trong việc thúc đẩy hiểu biết về các bệnh truyền nhiễm và cách điều trị chúng. Những tiến bộ này mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, như chúng ta đã biết từ kinh nghiệm với COVID-19”, Tiến sĩ Walker nhấn mạnh.

    Dữ liệu hiện được cung cấp miễn phí, và cộng đồng khoa học có thể sử dụng dữ liệu để nâng cao hiểu biết về tình trạng kháng thuốc ở bệnh lao và cách điều trị tốt nhất cho căn bệnh này.

    Dự án được tài trợ bởi Quỹ MRC Newton, Wellcome, và Quỹ Bill & Melinda Gates. Đội ngũ các nhà khoa học dẫn dắt bởi Tiến sĩ Walker hiện đang làm việc tại Thành phố Hồ Chí Minh, Việt Nam tại Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU), một trong năm Chương trình Châu Á-Châu Phi của Quỹ Wellcome.

    Để biết thêm thông tin, vui lòng liên hệ với Nhóm Truyền thông của Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) theo địa chỉ communications@oucru.org.

    Các bản thảo:

    1. Epidemiological cutoff values for a 96-well broth microdilution plate for high-throughput research antibiotic susceptibility testing of  tuberculosis. The CRyPTIC Consortium (2021) medRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.02.24.21252386
    2. BashTheBug: a crowd of volunteers reproducibly and accurately measure the minimum inhibitory concentrations of 13 antitubercular drugs from photographs of 96-well broth microdilution plates. Fowler PW et al. (2021) biorXiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.07.20.453060
    3. Minos: variant adjudication and joint genotyping of cohorts of bacterial genomes. Hunt M et al. (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.15.460475
    4. Genome-wide association studies of global Mycobacterium tuberculosis resistance to thirteen antimicrobials in 10,228 genomes. The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460272
    5. Quantitative measurement of antibiotic resistance in tuberculosis reveals genetic determinants of resistance and susceptibility in a target gene approach. The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460353
    6. Deciphering Bedaquiline and Clofazimine Resistance in Tuberculosis: An Evolutionary Medicine Approach. Sonnenkalb L et al. (2021) biorXiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.03.19.436148
    7. A generalisable approach to drug susceptibility prediction for tuberculosis using machine learning and whole-genome sequencing. The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.458035
    8. A data compendium of Mycobacterium tuberculosis antibiotic resistance. The CRyPTIC Consortium (2021) bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460274
    9. The 2021 WHO catalogue of tuberculosis complex mutations associated with drug resistance: A new global standard for molecular diagnostics. Walker et al. (2021) Lancet preprint.https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3923444 http://www.crypticproject.org/wp-content/uploads/2021/09/CRyPTIC9-WHO-preprint.pdf

    Vui lòng lưu ý rằng những bản thảo này là bản chưa được bình duyệt (preprint).

  • Largest ever global study of tuberculosis identifies genetic causes of drug resistance

    Largest ever global study of tuberculosis identifies genetic causes of drug resistance

    Using cutting-edge genomic sequencing techniques, researchers at the University of Oxford have identified almost all the genomic variation that gives people resistance to 13 of the most common tuberculosis (TB) drug treatments.

    The Comprehensive Resistance Prediction for Tuberculosis International Consortium (CRyPTIC) research project has collected the largest ever global dataset of clinical M. tuberculosis samples from across the world consisting of 15,211 samples from 27 countries on five continents.

    Using two key advances: a new quantitative test for drug resistance and a new approach which identifies all the genetic changes in a sample of drug-resistant TB bacteria the researchers have generated a unique dataset which the team has used to quantify how changes in the genetic code of M. tuberculosis reduce how well different drugs kill these bacteria that cause TB. These innovations, combined with ongoing work in the field, promise to profoundly improve how patients with TB are treated in the future.

    Tuberculosis kills more people each year than any other bacterium, virus, or parasite, except for SARS-CoV-2. Although it is treatable, drug resistance has emerged as a major problem over the past 3 decades. Testing for mutations in the M. tuberculosis genome to determine which drugs will give a patient the best chance of cure is the most realistic way of getting drug resistance testing to every patient who needs it.

    “This has been a massive international effort over five years, and will translate into benefits for patients and the wider community as these data are implemented to diagnose and manage drug-resistant TB effectively, and thereby reduce its onward transmission,” said Dr Timothy Walker, Wellcome Fellow at the Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU) and Associate Professor at the University of Oxford.

    In a series of nine new preprint manuscripts, each documenting a different aspect of how the CRyPTIC project has advanced the field, the researchers reveal:

    • How the new drug resistance tests should be interpreted [1] and how a massive citizen science project helped solve this problem [2]
    • How a new approach to detecting and describing genetic changes in the whole TB genome sequence improved the way genetic changes driving drug resistance can be detected [3]
    • How these data were used to scan the TB genome sequence for changes not previously known to cause drug resistance [4]
    • How individual mutations, and combinations of mutations, can be related not just to blunt measures of ‘resistance’ or ‘susceptibility’, but also to even minor changes in the way a drug kills M. tuberculosis, thereby reducing the effectiveness of treatment [5] with special attention being paid to two novel compounds being used to treat tuberculosis [6].
    • How artificial intelligence can predict drug resistance from signatures in the DNA sequence [7]
    • How these data [8] contributed to the first list of drug resistance mutations in the TB genome to be endorsed for global use by the World Health Organization [9]

    These results aim to help improve control of tuberculosis and facilitate the World Health Organisation’s end TB strategy through better, faster and more targeted treatment of drug-resistant tuberculosis via genetic resistance prediction, paving the way towards universal drug susceptibility testing (DST).

    “Ongoing international collaborations like this are essential if we are to continue to drive forwards our understanding of infectious diseases and how to treat them. As we know from recent experience with COVID-19, such advances benefit everyone,” Dr Walker highlighted.

    The data, which are now freely available, can be used by the wider scientific community to improve our understanding of drug resistance in TB and how to best treat this important disease.

    This project is funded by MRC Newton Fund, Wellcome, and Bill & Melinda Gates Foundation. Dr Walker’s team is based in Ho Chi Minh City, Viet Nam, with the Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU), one of five Wellcome’s Asia Africa Programmes.

    For further information, or to request an interview, please contact the Communications team at Oxford University Clinical Research Unit (OUCRU) at communications@oucru.org

    Manuscripts:

    1. Epidemiological cutoff values for a 96-well broth microdilution plate for high-throughput research antibiotic susceptibility testing of M. tuberculosis. The CRyPTIC Consortium (2021) medRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.02.24.21252386
    2. BashTheBug: a crowd of volunteers reproducibly and accurately measure the minimum inhibitory concentrations of 13 antitubercular drugs from photographs of 96-well broth microdilution plates. Fowler PW et al. (2021) biorXiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.07.20.453060
    3. Minos: variant adjudication and joint genotyping of cohorts of bacterial genomes. Hunt M et al. (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.15.460475
    4. Genome-wide association studies of global Mycobacterium tuberculosis resistance to thirteen antimicrobials in 10,228 genomes. The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460272
    5. Quantitative measurement of antibiotic resistance in M. tuberculosis reveals genetic determinants of resistance and susceptibility in a target gene approach. The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460353
    6. Deciphering Bedaquiline and Clofazimine Resistance in Tuberculosis: An Evolutionary Medicine Approach. Sonnenkalb L et al. (2021) biorXiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.03.19.436148
    7. A generalisable approach to drug susceptibility prediction for M. tuberculosis using machine learning and whole-genome sequencing.  The CRyPTIC Consortium (2021). bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.458035
    8. A data compendium of Mycobacterium tuberculosis antibiotic resistance. The CRyPTIC Consortium (2021) bioRxiv preprint. https://doi.org/10.1101/2021.09.14.460274
    9. The 2021 WHO catalogue of M. tuberculosis complex mutations associated with drug resistance: A new global standard for molecular diagnostics. Walker et al. (2021) Lancet preprint. https://papers.ssrn.com/sol3/papers.cfm?abstract_id=3923444 http://www.crypticproject.org/wp-content/uploads/2021/09/CRyPTIC9-WHO-preprint.pdf

    Note that since these manuscripts are preprints, they have not yet undergone academic peer-review.

  • Ký sinh trùng phổ biến thứ hai cá»§a bệnh sốt rét gây thiệt hại không nhỏ đến sức khỏe con người

    Ký sinh trùng phổ biến thứ hai của bệnh sốt rét gây thiệt hại không nhỏ đến sức khỏe con người

    Theo bài tổng quan của GS. Kevin Baird (Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Eijkman-Oxford tại Indonesia) và Katherine Battle (Viện Mô hình Dịch bệnh tại Hoa Kỳ) công bố trên tạp chí truy cập mở PLOS Medicine ngày 7/10, ký sinh trùng sốt rét Plasmodium vivax (P. vivax) gây ra tình trạng nhiễm trùng mãn tính tái phát và tạo nên gánh nặng lớn cho sức khỏe toàn cầu, tuy nhiên gánh nặng này vẫn chưa được nhìn nhận đúng mức.

    Trong bài tổng quan, GS. Baird và Battle tóm tắt các bằng chứng cho thấy tình trạng nhiễm P. vivax mãn tính gây ra những tác hại lan rộng nhưng khó nhận biết, và những tác hại này thường bị bỏ qua trong các ước tính về gánh nặng toàn cầu của bệnh sốt rét dựa trên những ca bệnh cấp tính được báo cáo. Bên cạnh đó, P. vivax thường tác động đến các cộng đồng nghèo vốn phải đối mặt với nhiều thách thức về sức khỏe. Có năm loài Plasmodium gây bệnh sốt rét, nhưng phần lớn các ca bệnh được báo cáo (khoảng 193,5 triệu ca hàng năm) là do Plasmodium falciparum. P. vivax là nguyên nhân phổ biến thứ hai, với khoảng 14,3 triệu ca hàng năm. Một nghiên cứu gần đây cho thấy P. falciparum thường gây tử vong trong vòng hai tuần sau chẩn đoán, và những bệnh nhân nhiễm P. vivax có nguy cơ tử vong cao gấp đôi trong thời gian dài. Ở những người phơi nhiễm P. vivax lặp lại, tình trạng nhiễm trùng mãn tính gây tổn thương thận, não và hệ tuần hoàn.

    Những hiểu biết mới về đặc tính sinh học của P. vivax đã tiết lộ nhiều yếu tố góp phần tạo nên gánh nặng cho sức khỏe toàn cầu của ký sinh trùng này. Nó có thể tồn tại trong cơ thể ở mức độ thấp, không gây triệu chứng nên khó chẩn đoán nhưng vẫn có thể lây lan. Khu vực Châu Phi hạ Sahara từng được cho là miễn dịch với sự lây nhiễm của P. vivax, vì hầu hết dân số ở đây thiếu kháng nguyên Duffy, một phân tử trên bề mặt tế bào hồng cầu mà ký sinh trùng sử dụng để xâm nhập vào cơ thể. Tuy nhiên, một nghiên cứu gần đây cho thấy lây nhiễm P. vivax vẫn còn phổ biến ở khu vực này. Bên cạnh đó, một phần dân số ở đây mang hai biến thể di truyền phổ biến mà gây khó khăn cho việc điều trị bệnh sốt rét do P. vivax.

    Tất cả những yếu tố này làm cho việc đánh giá tình trạng nhiễm P. vivax một cách toàn diện và kiểm soát sự lây lan của nó trở nên phức tạp hơn. Baird và Battle kết luận rằng các phương pháp tiếp cận truyền thống được phát triển để ứng phó với P. falciparum ở Châu Phi là không phù hợp với P. vivax. Để loại trừ P. vivax, chúng ta cần các chẩn đoán, liệu pháp và chiến lược kiểm soát véc-tơ khác nhau, và cũng cần dữ liệu tốt hơn về phạm vi thực tế của gánh nặng do ký sinh trùng này gây ra.

    GS. Baird chia sẻ: “Việc xét nghiệm máu những bệnh nhân sốt rét cấp tính do P. vivax là không đủ để Ä‘o lường gánh nặng toàn cầu cá»§a tình trạng này. Ký sinh trùng này ẩn náu trong các cÆ¡ quan sâu bên trong cÆ¡ thể, và những tác hại chúng gây ra ở những cÆ¡ quan này tuy khó nhận biết nhưng vẫn rất đáng kể”.

    GS. Kevin Baird phỏng vấn với Outbreak News TV về Plasmodium vivax. 


    Bài báo này đã được đăng tải trên PLOS Medicine

    Thông tin Liên hệ: GS. Kevin Baird

    Trích dẫn: Battle KE, Baird JK (2021) The global burden of Plasmodium vivax malaria is obscure and insidious. PLoS Med 18(10): e1003799. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.1003799 

  • Study: Second most common malaria parasite takes unrealized toll on human health

    Study: Second most common malaria parasite takes unrealized toll on human health

    The malaria parasite Plasmodium vivax (P. vivax) causes frequent, chronic infections that represent a major unrecognized burden on global health, according to a review by Kevin Baird of the Eijkman-Oxford Clinical Research Unit in Indonesia and Katherine Battle of the Institute for Disease Modeling in the United States publishing October 7th in the open access journal PLOS Medicine.

    In this review, Baird and Battle summarize evidence indicating that the global burden of malaria estimated from reported cases of acute attacks likely miss the widespread but more subtle harm done by chronic infection of P. vivax. Futhermore, P. vivax often affects impoverished communities where people face multiple health challenges. There are five Plasmodium species that cause malaria, but the vast majority of reported cases are due to Plasmodium falciparum, with about 193.5 million cases annually. P. vivax is the second most commonly reported cause, with about 14.3 million cases annually. A recent study found that while P. falciparum is more likely to cause death within two weeks of diagnosis, patients with P. vivax were more than twice as likely to die over the long term. Chronic infections in people who are repeatedly exposed to P. vivax cause damage to the kidneys, brain, and circulatory system.

    An improved understanding of the biology of P. vivax has recently revealed multiple factors that contribute to its toll on global health. The parasite can exist in the body at low levels that cause no symptoms, making it difficult to diagnose, but can still spread. Sub-Saharan Africa was once thought to be practically immune to P. vivax infection because most of the population lack the Duffy antigen, a molecule on the surface of red blood cells the parasite uses to invade. However, a recent study finds that P. vivax transmission is still widespread in this region. Additionally, there are two common genetic variations carried by part of the population that interfere with successful treatment of P. vivax malaria.

    All these factors complicate efforts to estimate the full extent of P. vivax infections and control its spread. Baird and Battle conclude that the traditional approaches developed to combat P. falciparum in Africa are inadequate for P. vivax. Eliminating P. vivax will require different diagnostics, therapies and vector control strategies, and better data that reveal the true scope of the burden.

    Baird adds, “Blood smears from patients suffering acute vivax malaria do not suffice to measure global burdens of this infection. The parasite finds refuge in deeper organs where the harm done is more subtle but nonetheless substantial.”

    Prof. Kevin Baird appeared on Outbreak News TV to discuss Plasmodium vivax. 


    This paper is freely available in PLOS Medicine

     

    Contact: Prof. Kevin Baird

    Citation: Battle KE, Baird JK (2021) The global burden of Plasmodium vivax malaria is obscure and insidious. PLoS Med 18(10): e1003799. https://doi.org/10.1371/journal.pmed.1003799Â