Blog

  • OUCRU mempersembahkan pameran virtual, Digital Diaries: Voices from the Pandemic, COVID-19 experiences in Asia

    You can read the news in Bahasa Indonesia and Nepali.

    Anda dapat membaca artikel ini dalam versi Bahasa Indonesia dan Nepali.

    तपाई यो समाचार  बहासा इन्डोनेसिया र  नेपाली मा पनि पढ्न सक्नु हुन्छ

    This online exhibition showcases short films and photographs created by healthcare workers and community members and documents the socio-cultural impact of the COVID-19 pandemic in Indonesia, Nepal, and Vietnam.

    Please join us at a webinar to launch the exhibition: 22 September 2022 | 13:00 – 14:30 GMT+1 (19:00 ICT, 17:45 NPT)

    The event, held in partnership with The Global Health Network, will address:

    • the practicalities and challenges of engaging with communities during periods of lockdown
    • ‘digital diaries’ as a method for empowering individuals to express themselves
    • integrating this method into social science research studies.

    Speakers:

    Prof. Guy Thwaites, Director, Oxford University Clinical Research Unit and Wellcome Trust Major Overseas Programme in Vietnam; Professor of Infectious Diseases, University of Oxford.

    Yen Hoang Nguyen, Media & Communications Coordinator, Public Engagement Department in the Oxford University Clinical Research Unit, Vietnam

    Dr Gillian Black, Co-director, Sustainable Livelihoods Foundation, South Africa

    Dinesh Deokota, Director, Media for Development (MFD), Nepal

    Chair:

    Dr Mary Chambers, Head of Public Engagement at the Oxford University Clinical Research Unit and Wellcome Trust Major Overseas Programme in Vietnam

    Digital Diaries is part of the SPEAR project, which features on the Oxford University Global Research map.

    Visit the online exhibition

  • OUCRU giá»›i thiệu buổi triển lãm trá»±c tuyến: Nhật ký Kỹ thuật số: Tiếng nói từ đại dịch, trải nghiệm COVID-19 tại châu Á

    Buổi triển lãm trực tuyến này sẽ giới thiệu các đoạn phim ngắn và hình ảnh được chính nhóm nhân viên y tế và thành viên cộng đồng ghi lại, phản ánh tầm ảnh hưởng về mặt xã hội và văn hóa trong đại dịch COVID-19 tại Indonesia, Nepal, và Việt Nam.

    Buổi gặp gỡ, chia sẻ, và ra mắt buổi triển lãm đã được tổ chức lúc 19:00 ngày 22/09/2022 (13:00 – 14:30 GMT+1, 17:45 NPT).

    Tại sự kiện đồng tổ chức với The Global Health Network, các khách mời sẽ cùng thảo luận:

    • thá»±c tế và thách thức cá»§a việc tương tác vá»›i cá»™ng đồng trong thời gian giãn cách xã há»™i
    • ‘nhật ký kỹ thuật số’ là má»™t phương pháp trao quyền cho các cá nhân để bá»™c lá»™ bản thân
    • tích hợp phương pháp này vào các nghiên cứu khoa học xã há»™i.

    Khách mời:

    Chủ tọa:

    Dr Mary Chambers, trưởng phòng Kết nối Khoa học với Công chúng, Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Oxford và Wellcome Trust Major Overseas Programme tại Việt Nam

    Nhật ký Kỹ thuật số là một phần của dự án SPEAR. Dự án SPEAR cũng vinh dự được giới thiệu trong bản đồ Nghiên cứu Toàn cầu của Đại học Oxford.

    Xem triển lãm trực tuyến tại đây

  • OUCRU presents a new virtual exhibition: Digital Diaries: Voices from the Pandemic, COVID-19 experiences in Asia

    This online exhibition showcases short films and photographs created by healthcare workers and community members and documents the socio-cultural impact of the COVID-19 pandemic in Indonesia, Nepal, and Vietnam.

    Please join us at a webinar to launch the exhibition: 22 September 2022 | 13:00 – 14:30 GMT+1 (19:00 ICT, 17:45 NPT)

    The event, held in partnership with The Global Health Network, will address:

    • the practicalities and challenges of engaging with communities during periods of lockdown
    • ‘digital diaries’ as a method for empowering individuals to express themselves
    • integrating this method into social science research studies.

    Speakers:

    Chair:

    Dr Mary Chambers, Head of Public Engagement at the Oxford University Clinical Research Unit and Wellcome Trust Major Overseas Programme in Vietnam

    Digital Diaries is part of the SPEAR project, which features on the Oxford University Global Research map.

    Visit the online exhibition

  • Nghiên cứu cá»§a OUCRU hướng tá»›i giảm chi phí Ä‘iều trị và cải thiện khả năng tiếp cận y tế cho bệnh nhân Viêm gan C

    Nghiên cứu của OUCRU hướng tới giảm chi phí điều trị và cải thiện khả năng tiếp cận y tế cho bệnh nhân Viêm gan C

    Ngày 28 tháng 7 là Ngày Thế giới Phòng chống Viêm Gan.

    Theo Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), tỷ lệ viêm gan ở nước ta chiếm khoảng 10-15% dân số, trong đó khoảng 1,07 triệu người nhiễm viêm gan C (1-2% dân số). Có tới 90% người nhiễm Viêm gan C không biết về tình trạng nhiễm virus của mình.

    OUCRU, Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Tp. Hồ Chí Minh và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương (Hà Nội) đã hợp tác trong các nghiên cứu và thử nghiệm lâm sàng liên quan tới Viêm gan C từ năm 2018. Những nghiên cứu này tập trung vào các yếu tố dự đoán người nhiễm Viêm Gan C có thể được điều trị thành công với thời gian điều trị ngắn hơn khi sử dụng liệu pháp kháng vi-rút.

    Hiện nay, liệu pháp điều trị bằng thuốc kháng vi-rút (DAA) trực tiếp cho bệnh Viêm gan C (HCV) mang lại tỷ lệ chữa khỏi cao cho những người có thể tuân thủ thời gian điều trị tiêu chuẩn. Ở các nước có thu nhập thấp và trung bình như Việt Nam, nơi việc điều trị chỉ giới hạn sử dụng các liệu pháp thuốc ức chế NS5A / NS5B thế hệ thứ hai, thời gian điều trị tiêu chuẩn ít nhất là 12 tuần. Khoảng thời gian này là một rào cản đối nhiều người không có thời gian tham gia điều trị, và từ đó, mối đe doạ sức khoẻ cộng đồng Viêm Gan C vẫn chưa thể bị loại trừ. Bắt buộc phải tìm ra các chiến lược điều trị mới đối với những nhóm dân số khó tiếp cận, chẳng hạn như những người tiêm chích ma túy và những người vô gia cư.

     

    Ngoài ra, tại Việt Nam, liệu pháp DAA Ä‘iều trị Viêm gan C vẫn còn đắt đỏ đối vá»›i nhiều người bị nhiá»…m bệnh. Má»™t liệu trình tiêu chuẩn kéo dài 12 tuần, sá»­ dụng sofosbuvir và daclatasvir (SOF / DCV) có giá từ US $2,417 – $ 2,472 (khoảng hÆ¡n 56 triệu đồng), theo số liệu tại thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2019. Mặc dù chính phá»§ Việt Nam có cung cấp trợ cấp 50% chi phí thuốc thông qua bảo hiểm y tế, nhưng Bá»™ Y tế ước tính chỉ có 1.000 người được tiếp cận Điều trị DAA thông qua bảo hiểm y tế vào năm 2019 và 2.700 vào năm 2020.

    Tổ chức Y tế Thế giới đã kêu gọi nghiên cứu các yếu tố dự đoán người nhiễm Viêm Gan C có thể được điều trị thành công với thời gian điều trị ngắn hơn khi sử dụng liệu pháp kháng vi-rút, nhờ đó có thể mở rộng khả năng tiếp cận điều trị và giảm chi phí thuốc.

    Chúng tôi đã hoàn thành một nghiên cứu thử nghiệm nhỏ vào năm 2020, xem xét hiệu quả điều trị virus sớm nhằm đưa ra thời gian điều trị sử dụng SOF / DCV hợp lý. Cho tới nay, đây vẫn là lựa chọn điều trị có giá thấp nhất và phổ biến nhất trên toàn cầu.

    Chúng tôi cũng đang tiến hành một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên nhiều nhánh lớn hơn nhằm khám phá ba chiến lược rút ngắn thời gian điều trị khác nhau đối với Viêm gan C, với hai sự kết hợp thuốc khác nhau. Chúng tôi dự kiến ​​sẽ hoàn thành việc thu tuyển bệnh nhân vào đầu năm 2023.

    Ngoài ra, nhóm nghiên cứu OUCRU đã thực hiện một đánh giá có hệ thống và phân tích tổng hợp tỷ lệ huyết thanh viêm gan B, C và D ở Việt Nam từ 1990-2020, được công bố trên tạp chí The Lancet Western Pacific vào tháng 5 năm 2022. Chúng tôi nhận thấy rằng mặc dù an toàn máu đã được cải thiện, việc tập trung vào tiêm chủng vắc xin Viêm Gan B cho trẻ sơ sinh và việc sàng lọc và điều trị Viêm Gan C có mục tiêu cho những người tiêm chích ma túy là cần thiết để đạt mục tiêu loại trừ căn bệnh này.

    Cho đến nay, những thử nghiệm lâm sàng này chủ yếu có sự tham gia của những bệnh nhân đang được chăm sóc tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới. Họ hiểu được sự lây nhiễm của VGC và những tác động của bệnh, và mong muốn tìm cách điều trị. Các thử nghiệm lâm sàng sử dụng liệu pháp ngắn hoặc ngắt quãng có thể mang tới tợi ích tích cực cho những cộng đồng mà trước đây chưa thể tiếp cận điều trị. Nếu các giải pháp này có hiệu quả như kì vọng, chúng ta sẽ phải có chiến lược thu hút những nhóm cộng đồng yếu thế này, chẳng hạn như nhóm tiêm chích ma túy (PWID), nam giới quan hệ tình dục đồng giới hoặc chuyển giới, nhóm lao động tình dục, cũng như các cộng đồng có thu nhập thấp.

    Do đó, OUCRU đã phối hợp với các bên liên quan để thực hiện “Nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng nhằm nâng cao tính kết nối với nhóm dễ bị tổn thương có nguy cơ mắc Viêm Gan C (VGC) tại Việt Nam” (Hep C PAR). Đây là nghiên cứu xã hội có sự tham gia của cộng đồng (Community-based participatory research), gọi tắt là CBPR. Bằng cách ứng dụng CBPR, các nhóm cộng đồng được trao quyền để tự tìm hiểu những vấn đề quan trọng với cộng đồng của họ, từ đó chia sẻ góc nhìn của mình, phân tích và tiến đến tìm kiếm, thực hiện những giải pháp thực tế và phù hợp cho những thách thức tại chính cộng đồng của mình.

    CBPR groups practising Venn Diagram as part of CBPR activities to identify stakeholders having impacts on underserved communities at risk of Hep C. | Đại diện nhóm cá»™ng đồng thá»±c hành ứng dụng CBPR – biểu đồ Venn để xác định các bên liên quan có ảnh hưởng lên các cá»™ng đồng yếu thế có nguy cÆ¡ mắc VGC.

    Cho tới nay, các nghiên cứu của OUCRU liên quan tới Viêm Gan C vẫn đang diễn ra và có những kết quả tích cực với nhóm người tham gia nghiên cứu, với hy vọng có thể tiếp cận những cộng đồng lớn hơn trong tương lai.

  • World Hepatitis Day: OUCRU research seeks to lower cost of treatment and improve access to care for patients with Hepatitis C

    World Hepatitis Day: OUCRU research seeks to lower cost of treatment and improve access to care for patients with Hepatitis C

    July 28 is World Hepatitis Day.

    According to the World Health Organisation, 10 – 15 per cent of Vietnam’s population is estimated to have viral hepatitis, including 1,07 million people who have Hepatitis C. Over 90 per cent of those who have Hepatitis C are not aware of their positive status.

    OUCRU, the Hospital for Tropical Diseases (Ho Chi Minh City), and Vietnam’s National Hospital for Tropical Diseases (Hanoi) have been collaborating on Hepatitis C clinical trials since 2018. Our research is centred around predictive factors for selecting persons who could be successfully treated with shorter durations of antiviral therapy for Hepatitis C.

    Currently, directly acting antiviral (DAA) therapy for Hepatitis C (HCV) offers high cure rates to those able to adhere to standard durations of treatment. In low- and middle-income countries like Vietnam, where treatment is limited to second-generation NS5A/NS5B-inhibitor combinations, the standard treatment is at least 12 weeks. This duration presents a barrier to successful engagement in care for some populations, hampering the elimination of HCV as a public health threat. Novel treatment strategies are required for hard-to-reach individuals, such as people who inject drugs and those with no fixed abode.

    In addition, in Vietnam, DAA therapy for Hepatitis C remains prohibitively expensive for many of those infected. A standard twelve-week course of sofosbuvir and daclatasvir (SOF/DCV) was priced at US$2,417 – $2,472 in Ho Chi Minh City in 2019. Despite the government subsidising 50% of drug costs since, the Ministry of Health estimates only 1,000 individuals accessed DAA treatment through health insurance in 2019 and 2,700 in 2020.

    The World Health Organisation has called for research into predictive factors for selecting persons who could be successfully treated with shorter durations of therapy, which could expand access to treatment and reduce drug costs.

    We completed a small pilot study in 2020, looking at the early virological response as a means of guiding the duration of therapy of SOF/DCV, which remains the lowest-priced and most widely available treatment option globally.

    We are also running an ongoing larger multi-arm randomised controlled trial exploring three different treatment shortening strategies for Hep C with two different drug combinations. We expect to complete recruitment in early 2023.

    In addition, our team of OUCRU researchers recently performed a systematic review and meta-analysis of the seroprevalence of Hepatitis B, C and D in Vietnam from 1990-2020, which was published in The Lancet Western Pacific in May 2022. We found that while blood safety has improved, a renewed focus on HBV vaccination at birth and targeted HCV screening and treatment of people who inject drugs are urgently required to meet elimination targets.

    To date, these clinical trials have recruited from populations already engaged in care at the HTD. Participants are aware of HCV infection and its implications and are well-motivated to seek treatment. Since our clinical trials are investigating the efficacy of treatment strategies that could be used to treat underserved populations (e.g. ultrashort or intermittent therapy), should these strategies have efficacy as hoped, it is crucial to develop innovative ways to engage with these ‘hard-to-reach’ populations, such as people who inject drugs (PWID), men who have sex with men, commercial sex workers, as well as low-income communities.

    OUCRU’s social science and public engagement teams are currently working with these underrepresented groups, using community-based participatory research (CBPR) to engage with communities to create community-led strategies to improve linkages to care and treatment for populations at risk for viral hepatitis.

    CBPR groups practising Venn Diagram as part of CBPR activities to identify stakeholders having impacts on underserved communities at risk of Hep C.

    These studies are currently ongoing, with a positive impact on the participants. We hope to have a more significant impact on the treatment strategy and access to care for patients with Hepatitis C in Vietnam and worldwide in the future.

  • GS. Guy Thwaites đồng tác giả báo cáo cá»§a Tổ chức Y tế Thế giá»›i về các thuốc kháng khuẩn má»›i trong giai Ä‘oạn tiền lâm sàng và lâm sàng

    GS. Guy Thwaites đồng tác giả báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới về các thuốc kháng khuẩn mới trong giai đoạn tiền lâm sàng và lâm sàng

    Giáo sư Guy Thwaites – Giám đốc OUCRU – đã đóng góp vào báo cáo cá»§a Tổ chức Y tế Thế giá»›i (WHO) về các thuốc kháng khuẩn má»›i ở giai Ä‘oạn tiền lâm sàng và lâm sàng, vá»›i tư cách là thành viên cá»§a nhóm cố vấn cá»§a WHO về nghiên cứu và phát triển giải pháp kháng khuẩn.

    Nhóm cố vấn đã họp trực tuyến vào ngày 29 và 30/11/2021 để thảo luận và đánh giá các thuốc kháng khuẩn tiềm năng đang được phát triển ở các giai đoạn khác nhau trên toàn cầu. Kết quả được tổng hợp trong bản báo cáo “Các thuốc kháng khuẩn đang được phát triển ở giai đoạn tiền lâm sàng và lâm sàng năm 2021: Tổng quan và phân tích”. Báo cáo đánh giá 77 thuốc kháng khuẩn đang trong quá trình phát triển lâm sàng, 45 trong số đó là các thuốc kháng khuẩn truyền thống (phân tử nhỏ, tác dụng trực tiếp) và 32 là thuốc kháng khuẩn phi truyền thống.

    Báo cáo cho thấy việc phát triển những giải pháp kháng khuẩn mới không đủ để giải quyết mối đe dọa ngày càng tăng cao do kháng kháng sinh gây ra. Số lượng thuốc kháng sinh mới ở giai đoạn tiền lâm sàng hầu như không thay đổi trong 3 năm qua. Tuy nhiên, ở giai đoạn lâm sàng, chỉ có 27 sản phẩm mới được phát triển cho các bệnh ưu tiên vào năm 2021, thấp hơn 31 sản phẩm vào năm 2017. Trong số đó, chỉ có 6 sản phẩm đáp ứng ít nhất một trong các tiêu chí về cải tiến của WHO. Tình trạng này là do những rào cản như quá trình phê duyệt kéo dài, chi phí cao, tỷ lệ thành công thấp và tác động của đại dịch COVID-19.

    Báo cáo cho thấy vấn đề này cần sá»± tham gia và hành động nhanh chóng cá»§a cả Chính phá»§ và các công ty/tổ chức tư nhân. Cả hai lÄ©nh vá»±c công và tư nhân cần phối hợp cùng nhau để thúc đẩy việc phát triển và cải tiến thuốc kháng sinh, đặc biệt là các loại thuốc có thể tạo ra tác động ở những nÆ¡i có nguồn tài nguyên thấp – nÆ¡i tình trạng kháng thuốc là nghiêm trọng nhất. Các quốc gia cÅ©ng cần hợp tác vá»›i nhau để tạo ra những giải pháp bền vững, tăng cường nghiên cứu và phát triển, cÅ©ng như thiết lập má»™t hệ sinh thái thuốc kháng sinh bền vững.

  • Prof Guy Thwaites co-authored WHO’s report on antibacterial agents in preclinical & clinical development

    Prof Guy Thwaites co-authored WHO’s report on antibacterial agents in preclinical & clinical development

    OUCRU’s Director, Professor Guy Thwaites, has recently contributed to an analysis of antibacterial agents in preclinical and clinical development by the World Health Organisation (WHO), as part of the WHO advisory group on research and development of antibacterial treatments.

    The advisory group met virtually on 29 and 30 November 2021 to discuss and evaluate pipelines of antibacterial candidates in different stages of development around the globe. The resulting report – titled “2021 Antibacterial agents in clinical development and preclinical: an overview and analysis” – covers 77 antibacterial agents in clinical development, 45 of which are traditional (direct-acting small molecules) agents and 32 are non-traditional agents.

    The report shows that the development of new antibacterial treatments is insufficient to tackle the increasing threat of antibiotic resistance. The number of new antibiotics in the preclinical stage has remained relatively constant over the last 3 years. However, in the clinical stage, there were only 27 new products against priority pathogens in 2021, compared to 31 products in 2017. Amongst those, only 6 fulfill at least one of WHO’s criteria for innovation. This is due to barriers such as the lengthy approval pathway, high cost, low success rates, and impact of the COVID-19 pandemic.

    The 2021 analysis suggests that the issue demands urgent and concerted efforts from both governments and the private sector. They need to work together to accelerate the innovation of antibiotics, especially those that can make an impact in low-resource settings where antimicrobial resistance is most visible. There should also be collaboration across countries to create sustainable solutions, enhance research and development, as well as establish a viable ecosystem for antibiotics.

  • Bài báo Nghiên cứu về Bệnh Sốt xuất huyết cá»§a OUCRU được trao Giải thưởng Alexandre Yersin cho Công trình Nghiên cứu Xuất sắc năm 2021-2022

    Bài báo Nghiên cứu về Bệnh Sốt xuất huyết của OUCRU được trao Giải thưởng Alexandre Yersin cho Công trình Nghiên cứu Xuất sắc năm 2021-2022

    Bài báo nghiên cứu có tiêu đề Tổ hợp những dấu ấn sinh học trong giai Ä‘oạn sốt cá»§a bệnh sốt xuất huyết liên quan vá»›i bệnh nặng’ gần đây đã được trao Giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc năm 2021-2022.

    Sốt xuất huyết là một bệnh truyền nhiễm khá nguy hiểm do virus Dengue gây ra qua trung gian truyền bệnh là muỗi. Bệnh nhân sốt xuất huyết do virus Dengue có diễn biến khó tiên lượng. Do đó, tiên đoán sớm người sẽ bị bệnh nặng từ những người mắc sốt xuất huyết là rất quan trọng trong điều trị và phân bổ nguồn lực y tế. Trong nghiên cứu này, chúng tôi tìm thấy 10 chỉ số xét nghiệm liên quan đến sốt xuất huyết trung bình-nặng và xác định được các tổ hợp xét nghiệm tốt nhất giúp tiên đoán trẻ em và người lớn sẽ bị bệnh nặng. Kết quả này sẽ giúp phát triển các bộ xét nghiệm giúp bác sĩ chẩn đoán sớm người mắc sốt xuất huyết có thể bị bệnh nặng.

    Bài báo nghiên cứu được bình duyệt đã xuất bản trên eLife vào tháng 6 năm 2021.

    Tác giả thứ nhất, Bác sĩ Nguyá»…n Lâm Vương, hiện Ä‘ang là nghiên cứu sinh tiến sÄ© tại OUCRU và Đại học Mở (Vương quốc Anh), chia sẻ: “Bài báo này là má»™t phần trong dá»± án Tiến sÄ© cá»§a tôi, và công sức bỏ ra cÅ©ng rất lá»›n. Tôi rất tá»± hào vì đã được cá»™ng đồng nghiên cứu y học quốc tế đã ghi nhận những ná»— lá»±c cá»§a mình. Vinh dá»± này khuyến khích tôi tiếp tục sá»± nghiệp nghiên cứu trong lÄ©nh vá»±c y học và tôi hy vọng sẽ sá»­ dụng cÆ¡ há»™i này để xây dá»±ng thêm các quan hệ hợp tác vá»›i các nhà nghiên cứu và giáo sư trong lÄ©nh vá»±c này.”

    Giải thưởng Alexandre Yersin cho công trình nghiên cứu xuất sắc năm 2021-2022 do Hiệp hội Y khoa Thụy Sĩ-Việt Nam (HELVIETMED) lập ra nhằm ghi nhận các nhà khoa học Việt Nam đã có những đóng góp quan trọng cho nền y học và thông qua các ấn phẩm được bình duyệt, họ đã giúp xây dựng danh tiếng của Việt Nam trong cộng đồng nghiên cứu y học quốc tế . Giải thưởng cũng nhằm mục đích thúc đẩy hợp tác quốc gia và quốc tế để cải thiện giáo dục y tế và nền y tế nói chung.

    Trích dẫn

    Nguyen Lam Vuong et al. Combination of inflammatory and vascular markers in the febrile phase of dengue is associated with more severe outcomes. eLife 2021 Jun 22;10:e67460.

  • Dengue Research Article Awarded The 2021 – 2022 Alexandre Yersin Prize for Outstanding Publications

    Dengue Research Article Awarded The 2021 – 2022 Alexandre Yersin Prize for Outstanding Publications

    Our research article titled ‘Combination of inflammatory and vascular markers in the febrile phase of dengue is associated with more severe outcomes’ was recently awarded the 2021-2022 Alexandre Yersin Prize for Outstanding Publications.

    This observational study was designed to identify severe dengue patients by using a series of inflammatory markers. The authors generated an immunological signature that included ten markers for predicting the risk of severe dengue patients. The finding was significant to the development of biomarker panels for clinical use and could improve triage and risk prediction in dengue patients. The peer-reviewed article was published on eLife in June 2021.

    First author Dr Nguyen Lam Vuong, a current PhD student at OUCRU and Open University (UK), shared: “This paper is a part of my PhD project, on which I’ve worked very hard. I am so proud that the international medical research community has recognised my efforts. This honour encourages me to continue my research career in medicine, and I hope to use this opportunity to build collaborations with other researchers and professors in the field.”

    The Alexandre Yersin Prize for Outstanding Publications was created by the Swiss-Vietnamese Medical Association (HELVIETMED) to recognize Vietnamese scientists who have made important contributions to the medical literature, and through peer-reviewed publications, they help build Vietnam’s reputation in international medical research community. The Prize also aims to foster national and international collaborations for medical education and better health care.

    Citation

    Nguyen Lam Vuong et al. Combination of inflammatory and vascular markers in the febrile phase of dengue is associated with more severe outcomes. eLife 2021 Jun 22;10:e67460.

  • Nghiên cứu đầu tiên chứng minh thuốc kháng độc tố ngá»±a an toàn và hiệu quả trong việc Ä‘iều trị uốn ván ở người lá»›n

    Nghiên cứu đầu tiên chứng minh thuốc kháng độc tố ngựa an toàn và hiệu quả trong việc điều trị uốn ván ở người lớn

    Lần đầu tiên, một thử nghiệm đối chứng ngẫu nhiên đã so sánh hai phương pháp điều trị kháng độc tố khác nhau cho bệnh uốn ván. Khi so sánh tác dụng của kháng độc tố người và ngựa, với phương pháp tiêm bắp, kháng độc tố ngựa được xác định là an toàn và hiệu quả trong việc điều trị uốn ván ở người lớn. Nghiên cứu cũng xác định việc bổ sung kháng độc tố nội tủy (tủy sống) không mang lại thêm lợi ích nào so với điều trị bằng kháng độc tố tiêm bắp đơn thuần.

    Đồng thực hiện bởi Đơn vị Nghiên cứu Lâm sàng Đại học Oxford (OUCRU) và Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Thành phố Hồ Chí Minh, nghiên cứu này có ý nghĩa quan trọng trong việc điều trị uốn ván, đặc biệt ở những địa phương chưa có nguồn lực.

    Các kết quả của nghiên cứu khuyến nghị dùng kháng độc tố tiêm bắp cho điều trị uốn ván. Nghiên cứu không tìm thấy bằng chứng nào cho thấy kháng độc tố ngựa có tác dụng phụ nhiều so với kháng độc tố người.

    So với kháng độc tố người, kháng độc tố ngựa rẻ hơn và sẵn có hơn ở nhiều nước. Nghiên cứu phát hiện kháng độc tố ngựa là an toàn, đặc biệt ở những nơi không có kháng độc tố người.

    Độc tố uốn ván hoạt động trong hệ thống thần kinh trung ương, nơi kháng độc tố tiêm ngoại vi ít xâm nhập vào được; do đó, tiêm kháng độc tố nội tủy (vào tủy sống) trước đó đã được tin rằng sẽ giúp cải thiện kết quả lâm sàng so với tiêm bắp. Nghiên cứu này cho thấy rằng tiêm nội tủy – một thủ thuật xâm lấn – không làm giảm đáng kể nhu cầu thở máy ở người lớn mắc uốn ván.

    BS. Lâm Minh Yến, Bác sĩ Nghiên cứu Cấp cao tại OUCRU, và TS. BS. Nguyễn Văn Hảo, Tác giả thứ nhất, Trưởng Khoa Hồi sức Cấp cứu Chống độc Người lớn của Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP.HCM và Trưởng Bộ môn Nhiễm – Đại học Y Dược TP.HCM, cho biết: “Kết quả của nghiên cứu khẳng định rằng phương pháp điều trị uốn ván bằng kháng độc tố ngựa tiêm bắp – một phương pháp điều trị xâm lấn tối thiểu – là an toàn và hiệu quả. So với phương pháp tiêm nội tủy phức tạp và xâm lấn, nghiên cứu cho thấy tiềm năng sử dụng kháng độc tố ngựa tiêm bắp, đặc biệt là ở những quốc gia có thu nhập thấp và trung bình”.

    Kéo dài trong 3 năm, nghiên cứu đã thu tuyển 272 bệnh nhân người lớn nhập viện ở Khoa Hồi sức Cấp cứu của Bệnh viện Bệnh nhiệt đới được chẩn đoán mắc uốn ván toàn thân.

    PGS. TS. Louise Thwaites, Nghiên cứu viên Lâm sàng Cấp cao tại OUCRU và Phó Giáo sư tại Trung tâm Y học Nhiệt đới và Sức khỏe Toàn cầu – Đại học Oxford, chia sẻ: “Tôi nghĩ OUCRU và Bệnh viện Bệnh nhiệt đới có khả năng đặc biệt để thực hiện những thử nghiệm lâm sàng lớn về uốn ván như nghiên cứu này. Nghiên cứu kết hợp cả chuyên môn về thử nghiệm lâm sàng lẫn chuyên môn lâm sàng để điều trị cho bệnh nhân uốn ván, và chúng tôi hy vọng họ chính là đối tượng hưởng lợi từ những nghiên cứu như thế này”.

    “Nghiên cứu này rất quan trọng, vì nó là một trong số ít các thử nghiệm lâm sàng về một căn bệnh vẫn đang ảnh hưởng đến nhiều người ở các quốc gia thu nhập thấp và trung bình mỗi năm. Thử nghiệm cho thấy việc tiêm kháng độc tố (phương pháp điều trị chính cho uốn ván) bằng đường tủy sống không cải thiện đáng kể mức độ nghiêm trọng hay kết cục của bệnh, so với đường thông thường (vào cơ)”.

    PGS. TS. Louise Thwaites kết luận: “Kết quả của nghiên cứu rất hữu ích cho các bác sĩ điều trị uốn ván trên toàn thế giới, đặc biệt là ở những nơi có nguồn lực hạn chế, và cho thấy rằng những phương pháp điều trị phức tạp và tương đối tốn kém là không cần thiết trong việc điều trị uốn ván”.


    Thông tin liên hệ: communications@oucru.org

    Trích dẫn: N Van Hao PhD, H Thi Loan MD et al. Human versus equine intramuscular antitoxin, with or without human intrathecal antitoxin, for the treatment of adults with tetanus: a 2 × 2 factorial randomised controlled trial. The Lancet Global Health 2022;10(6):e862-e872. Available from: https://www.thelancet.com/journals/langlo/article/PIIS2214-109X(22)00117-6/fulltext

     *Chương trình tập huấn trong hình ảnh là má»™t phần cá»§a dá»± án có tiêu đề: ‘Tính khả thi và khả năng chấp nhận cá»§a chương trình phục hồi chức năng do gia đình thá»±c hiện cho bệnh nhân uốn ván’, nhằm mục đích thiết kế quan hệ đối tác giữa nhân viên y tế & người chăm sóc trong gia đình bệnh nhân để cung cấp má»™t chương trình phục hồi chức năng cho bệnh nhân uốn ván, sau đó đánh giá tính khả thi, tính bền vững và khả năng được chấp nhận cá»§a cách tiếp cận này.

    Nguồn tài trợ: Quỹ Wellcome